Trang chủ >> Văn hóa

Di cư tự do

30-04-2016 - 07:20

Di cư là một hiện tượng phổ biến trên Thế giới

Di cư tự do và đề xuất hướng giải quyết

     I- Bức tranh chung về di cư tự do.

 DCTD được hiểu là sự di chuyển địa bàn cư trú của cá nhân hay một nhóm người không theo kế hoạch của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

  Di cư là hiện tượng phổ biến trên thế giới, gắn liền và đồng hành với quá trình phát triển. Báo cáo thường niên của chương trình phát triển Liên hợp Quốc năm 2009 đã giành hẳn cho chủ đề về di cư.

    Theo số liệu của UNDP thì hàng năm trên thế giới có khoảng 950 triệu người di cư, trong đó có 640 triệu di cư trong nội địa, còn 210 triệu di cư Quốc tế. Con số di cư Quốc tế trong 50 năm qua khá ổn định ở mức 3% dân số thế giới.

  Phần lớn người di cư là muốn tìm những nơi có cơ hội tốt hơn để hy vọng phát huy khả năng trong điều kiện mới để có cuộc sông dễ chịu hơn.

 Hơn 80% người di cư mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển. đối với nơi họ ra đi thì sẽ tạo thuận lợi hơn cho những người ở lại cả về điều kiện sản xuất cũng như các dịch vụ xã hội, khi có tiền họ gửi về gia ðinh, tạo thêm thu nhập và phat triển sản xuất. Đối với bản thân người di cư  tuy phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách ban đầu, nhưng có thu nhập cao hơn, cơ hội học hành và chăm sóc y tế tốt hơn, tương lai cho con cái sáng sủa hơn. Đối với nơi người di cư đến thì bổ sung nguồn lao động với chi phí thấp, nhất là những công việc mà người tại chỗ ít quan tâm

 20% người di cư còn lại gặp nhiều khó khăn, đa số rơi vào các trường hợp phải di cư do bất ổn, mâu thuẫn sắc tộc, dòng họ, những người xin tị nạn, những người di cư do bị cưỡng bức lừa gạt bởi bọn buôn người ,ma túy, tình dục.

  Theo quan điểm của Liên hợp Quốc việc quyết định lựa chọn nơi sinh sống là nội dung cơ bản của quyền tự do của con người. vì vậy LHQ khuyến cáo các quốc gia nên nới lỏng các rào cản , tạo điều kiện cho người di cư.

 

  II-  Tình hình di cư ở Việt Nam.

Theo số liệu Tổng điều tra năm 2009, số người di cư giữa các Tỉnh trong 5 năm 1994-1999 là 2 triệu người, 5 năm 2004-2009 là 3,4 triệu người tăng 1,4 triệu người, như vậy cứ mỗi năm tăng trung bình từ 8-10%.

 

 Xu hướng chung của di cư ở Việt Nam là tập trung về các Thành phố lớn, các khu công nghiệp, đông nhất là  Bình Dương 366/1000 dân, Thành phố Hồ Chí Minh 156/1000. Đồng nai 104/1000, Đà nẵng 100/1000, Đắc Nông 94,3/1000, Hà Nội 65,3/1000, Bà Rịa-Vũng Tàu 62,4/1000, Lâm Đồng 49/1000, Bình phước 45/1000.

 Các địa phương có người di cư đông nhất là Bến Tre  78/1000, hà tĩnh 76/1000, Thanh hóa 74,3/1000, Vĩnh Long 74/1000, Trà vinh 72/1000, Hà Nam 65,6/1000, Thái bình 64,8/1000, Nam Định 64,5/1000, Cà Mau 63/1000, Đồng Tháp 57,7/1000, Quảng Ngãi 57,2/1000. Nghệ An 57/1000, Sóc Trăng 56,9/1000, Bắc Giang 51,5/1000, Vĩnh Phúc 50,9/1000, Phú Thọ 48,1/1000…..

 

 -Tình hình di cư tự do ở các Tỉnh Tây bắc

Theo báo cáo của các địa phương vùng Tây Bắc, số lượng di cư tự do từ năm 2006 đến 2013 là 11.549 hộ/ 64.901 khẩu, bao gồm các dân tộc: Mông,  Nùng, Thái, Mường, Kinh, Hoa, Sán Chỉ, Pà Thẻn, Khơ Mú, Sinh Mun.

Qua tổng hợp, phân tích báo cáo của các địa phương cho thấy:

- Các dân tộc có tỉ lệ cao di cư tự do là: dân tộc Mông chiếm 75,5%, dân tộc Dao chiếm 8,5 %hộ/ 8,7%, dân tộc  Nùng 7,9 %, dân tộc Tày 5,2 %, dân tộc Thái 0,4 %. Các tỉnh có tỉ lệ di cư tự do cao là:  tỉnh Điện Biên chiếm 33,3%, tỉnh Cao Bằng chiếm 15% , các tỉnh còn lại đều có tỉ lệ dưới 10% tổng số di cư tự do.

- Di cự tự do bao gồm cả đi và đến,  ở nội vùng Tây Bắc chủ yếu là đến Mường nhé, Điện biên, di cư đi các tỉnh Tây Nguyên và một số di cư sang  Lào, Trung Quốc.

  Nhìn chung, đời sống của đồng bào di cư tự do rất khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sạch sinh hoạt, tình trạng bệnh tật... còn phổ biến trong đồng bào. Việc không đăng ký hộ khẩu hoặc chưa được đăng ký hộ khẩu đang là trở ngại cho việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng hộ gia đình di cư tự do vì vậy, đồng bào vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.

Qua tổng hợp, phân tích số liệu về đời sống đồng bào di cư tự do của các địa phương vùng Tây Bắc cho thấy: hộ thiếu đất sản xuất chiếm 58 %, hộ nghèo 84,7%, hộ nhà tạm chiếm 45,1%, hộ chưa có nước sinh hoạt chiếm 70%, hộ chưa có điện sinh hoạt chiếm 83,5%. Trong đó, tỉ lệ đời sống khó khăn ở các tỉnh và hộ gia đình khó khăn theo thành phần dân tộc có  khác nhau. Đồng bào dân tộc Mông tỷ lệ đói nghèo chiếm đến 84,7%, đặc biệt ở Mường Nhé, Điện Biên tỷ lệ hộ đói nghèo lên đến 97,8%.

 

 - Tình hình di cư tự do vào Tây Nguyên

Đồng bào các dân tộc ở các tỉnh phía Bắc di cư tự do vào Tây Nguyên, từ 1976 đến nay, tập trung đông vào thời kỳ từ năm 2000 trở lại đây, Cụ thể như sau:

Tỉnh Đắk Lắk: Từ năm 1976 đến năm 2011 có khoảng 59.276 hộ, 288.717 nhân khẩu (thời kỳ 1996 – 2011, có 9.537 hộ, 46.674 khẩu) di cư tự do đến các huyện M’Đrắc, Krông Bông, Ea Kar, Ea Soup, Cư M’gar, Krông Năng, Ea H’leo, Buôn Đôn.

Tỉnh Đắk Nông: Từ khi thành lập tỉnh năm 2004 đến năm 2011, toàn tỉnh có 4.884 hộ, 23.451 khẩu di cư tự do đến địa bàn của 8 huyện thị, tập trung đông nhất là huyện Đắk Glong, Tuy Đức (hơn 20.000 người).

Tỉnh Kon Tum: Từ năm 2000 đến năm 2010 có 4.016 hộ, 15.372 khẩu di cư tự do đến địa bàn tỉnh. Ngoài đồng bào ở các tỉnh phía Bắc di cư đến, tỉnh còn có 188 hộ, 868 khẩu là công dân của của Lào di cư tự do tới hai huyện biên giới Ngọc Hồ và Đắk Glei.

Hai tỉnh Gia Lai và Lâm Đồng: Từ năm 2005 đến 2009, tỉnh Gia Lai có 2.161 hộ, 8.024 khẩu; Tỉnh Lâm Đồng có 2.185 hộ, 8.953 khẩu di cư tự do đến địa bàn hai tỉnh.

Như vậy tổng số dân di cư vào Tây nguyên khoảng 72.522 hộ/ 344.517 khẩu. Nếu chỉ tính riêng từ năm 2005 đến tháng 3/2014 thì số dân di cư vào Tây nguyên là 18.920 hộ/72.934 khẩu.

  Nguyên nhân khách quan dẫn đến di cư tự do

- Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình phức tạp, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội quá khó khăn. Môi trường sản xuất, canh tác chủ yếu trên đất dốc, dễ rửa trôi, bạc màu, năng suất lao động thấp, thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều yếu kém.

- Đồng bào dân tộc có tính cộng đồng rất cao, đoàn kết trong lao động sản xuất, cũng như trong tổ chức xã hội, rất tôn trọng người đứng đầu dòng họ, già làng và những người được bầu giữ cương vị thủ lĩnh. Khi điều kiện sinh sống của bản khó khăn (đất đai bạc màu, gia súc gia cầm bị dịch bệnh hoặc người trong bản bị ốm đau, bệnh tật nhiều, không chữa khỏi…), cộng đồng sẽ cử một số người (trong đó có cả già làng, trưởng dòng họ, dòng tộc, trưởng  bản và thanh niên khoẻ mạnh,…) đi tìm kiếm những vùng đất mới (thuận lợi về giao thông, nguồn nước, có nhiều rừng để khai thác nguyên liệu làm nhà, có nhiều đất canh tác…), sau đó bàn bạc, thống nhất cùng di chuyển. Vì vậy khi di chuyển đến nơi ở mới, đồng bào thường tổ chức đi cả dòng họ trong bản hoặc một số gia đình anh em ruột vào cùng một thời điểm để có điều kiện gíup đỡ nhau xây dựng nhà cửa, tổ chức cuộc sống tại nơi mới đến, tạo nên dòng người di cư đông đúc.

- Cũng như mọi người dân cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Thống nhất, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn mong muốn có đời sống ổn định, có nhà ở, có đất sản xuất, canh tác, con cái được học hành, khi ốm đau được y tế chăm sóc sức khỏe. Do đó, đồng bào có nhu cầu đi tìm nơi làm ăn mới thuận lợi hơn, với mong muốn cuộc sống sẽ thay đổi và ổn định.

Nguyên nhân chủ quan dẫn đến di cư

- Công tác quy hoạch, xây dựng nông thôn mới, phát triển ngành nghề, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần ở vùng đồng bào còn nhiều bất cập; Việc đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức.

- Công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu, quản lý địa bàn còn gặp nhiều khó khăn.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân của các cấp, các ngành về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước còn hạn chế  nên một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số dễ bị lợi dụng, lôi kéo di cư tự do.

- Một số phong tục tập quán lạc hậu, lối sống du canh, du cư; canh tác trên nương rẫy khó thực hiện thâm canh, tăng vụ nên khi đất đai bạc màu thì người dân lại di cư đến nơi đất đai màu mỡ hơn để canh tác.

- Một số phần tử xấu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng dụ dỗ, lôi kéo, kích động đồng bào di cư tự do; lôi kéo người vượt biên trái phép, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong đồng bào các dân tộc nhằm gây rối trật tự xã hội, chống phá Đảng, chống phá chế độ, gây mất ổn định xã hội, nhất là trên địa bàn khu vực biên giới

 

III- Đề Xuất hướng giải quyết.

  1-Nhất quán các quan điểm:

  -Cần thống nhất quan điểm quyền lựa chọn nơi cư trú là quyền tự do của mọi công dân, để các quyền tự do cư trú đó của công dân được thực hiện thì nhà nước phải chủ động xây dựng tổng thể quy hoạch dân cư, dự báo được những nơi thường xảy ra thiên tai, nơi thiếu các điều kiện sản xuất để điều động dân cư có kế hoạch

 - Điều quan trong nhất là ổn định dân cư nơi đi, làm cho cuộc sống đồng bào ổn định, không phải thay đổi địa điểm cư trú.

 - Đối với số đồng bào di cư tự do, phải xác định đều là công dân Việt nam, phải nhập hộ khẩu, để con em được hoạc hành, đồng bào được hưởng các chính sách của nhà nước.

 Điều 23, Hiến pháp năm 2013 của nước ta cũng xác định rõ: “ Công dân có quyền tự do đi lại và tự do cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. việc thực hiện các quyền này do luật pháp quy định. ”

2-Kiến nghị một số giải pháp cụ thể.

 a-Rà soát và bổ sung quy hoạch tổng thể dân cư, trong đó chú trọng đáng giá dự báo đầy đủ những vùng thiếu đất sản xuất, vùng thường xuyên bị thiên tai, những vùng có các điều kiện dễ dẫn đến di cư, để chủ động xây dựng các dự án ổn đinh dân cư tại chỗ, lấy ổn định tại chỗ và các địa phương phụ cận làm chính, hạn ché đến mức thấp nhất việc xáo trộn quy hoạch dân cư của các địa phương.

b- Đối với số dân đã di cư tự do sống thành cộng đồng phải lập ngay các dự án ổn định cuộc sống, cấp hộ khẩu để người dân được hưởng các chính sách của nhà nước. Quá trình lập các dự án này hết sức lưu ý giải quyết tốt cuộc sống của những người dân đã sống lâu đời tại chỗ, tránh nảy sinh các so bì, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc.

c-Lập đề án chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm cho đồng bào những vùng thiếu đất sản xuất, tạo cuộc sống ổn định, bền vững, để hạn chế thấp nhất hiện tượng di cư không theo kế hoạch.

                                                                           Pa Vệ Sủ

Gửi bình luận của bạn
  • Mới cập nhật
  • Xem nhiều
x