Trang chủ >> Văn hóa

Truyền thống yêu nước và cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam

16-05-2016 - 21:42

Bài viết của PA VỆ SỦ

Truyền thống yêu nước , đấu tranh chống giặc ngoại xâm , giải phóng dân tộc , bảo vệ Tổ quốc của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam.

 

                                                                                              PA VỆ SỦ

 Việt Nam là một quốc gia thống nhất, có nhiều dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước các dân tộc luôn đoàn kết bên nhau trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai khắc nghiệt. Quá trình lịch sử oai hùng đó đã kết tinh nên truyền thống đoàn kết, yêu nước bất khuất kiên cường chống kẻ thù xâm lược , bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng đất nước mạnh giàu. Trong sự nghiệp vẻ vang đó, có sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam.

1- Lịch sử phong trào yêu nước của đồng bào dân tộc thiểu số trước năm 1930.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , năm Đinh hợi 214 trước công nguyên , quân Tần đã phái Nhâm ngao và Triệu Đà thống lĩnh 50 vạn quân xâm lược nước ta .Vùng đất Đông Bắc ,Tây Bắc ngày nay đã trở thành tiền đồn chống xâm lược . Người Âu Việt ở đây đã đoàn kết , kề vai sát cánh với người Lạc Việt , chống lại quân Tần xâm lăng bờ cõi. Từ cửa ngõ vùng Đông Bắc đến các vùng núi cao hiểm trở Tây Bắc , các tộc người thiểu số miền sơn cước dưới sự chỉ huy của tù trưởng, tộc trưởng , thổ ty địa phương đã dùng chiến tranh du kích chặn đánh ,chia cắt, phân tán , cản đường quân xâm lược , thiết lập được đế chế Nam Việt phía Tây Nam Trung Hoa . với sự cầm quân tài giỏi của Thục An Dương Vương , đội quân du kích các dân tộc thiểu số đã nhiều lần đánh bại chúng bằng chiến trận mũi tên đồng và thành luỹ hình xoáy ốc đắp bằng đất , nện chặt , dày hàng mét , cao ngang đầu người , tạo thành chiến lũy vững chắc . Năm thứ 3 trước công nguyên nhà Hán đã ồ ạt tấn công nước ta, đặt ách đô hộ , bóc lột rất nặng nề . Năm 39, hai nữ tướng Trưng Trắc, Trưng Nhị dựa vào miền rừng núi, vào các dân tộc thiểu số ở lưu vực sông Hồng nổi dậy khởi nghĩa. Đông đảo người Mường và các dân tộc vùng Tây Bắc đã tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đồng bào xây dựng những căn cứ trên vùng đồi núi để đánh giặc. Tên dãy núi Vua Bà , ở huyện Lương Sơn , tỉnh Hòa Bình ngày nay là vùng hậu cứ kháng chiến chống xâm lược của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị . Nhờ tinh thần yêu nước đoàn kết của đồng bào các dân tộc , chỉ trong vòng ba năm, Hai Bà Trưng đã triệt hạ 65 thành lũy, giải phóng cả hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân , tức là toàn bộ lãnh thổ nước ta thời bấy giờ. Trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, đồng bào các dân tộc vùng Đông Bắc cũng như số phận của nhân dân cả nước phải làm nô lệ cho bọn ngoại bang . người vùng biển đảo phải mò ngọc trai, người ở miền núi phải tìm ngà voi , săn lùng sừng tê giác để cống nạp, đồng thời phải chịu cảnh đốt phá , cướp bóc tàn bạo khôn cùng . Vào thế kỷ VI , khi Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, ông đã nhận được sự ủng hộ tích cực và tin cậy của người Lão, tổ tiên của đồng bào Tày , Nùng cư trú ở vùng miền núi tham gia ; Lý Bí lật đổ được ách thống trị của quan quân nhà Lương để thành lập nên nước Vạn Xuân độc lập, tự chủ. Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng thế kỷ thứ VIII cũng được tù trưởng người Lão , Đỗ Anh Hàn ủng hộ góp sức. Đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng theo tù trưởng Hàn tham gia vây thành luỹ của quân xâm lược nhà Đường. Bị vây hãm nhiều ngày đêm tướng giặc Cao Chính Bình sợ quá mà tự chết. Cho đến những năm đầu thế kỷ thứ IX , nhiều cuộc nổi dậy chống quân đô hộ phương Bắc của đồng bào Tày và các dân tộc trong vùng được nhân dân các dân tộc khắp nơi ủng hộ, hình thành nhiều đội quân sơn cước , đánh địch bằng nhiều thứ vũ khí , làm cho kẻ địch hoang mang , lo sợ , luôn trong tình trạng bất ổn . Những cuộc nổi dậy của các dân tộc vùng Đông Bắc trong suốt ngàn năm Bắc thuộc tuy không trở thành những cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ , nhưng như ngọn lửa âm thầm và bền bỉ , hun đúc tinh thần dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tăng cường và phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em , đó chính là nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn , góp phần cùng nhân dân cả nước đánh tan ách đô hộ một ngàn năm của ngoại bang . Giành được độc lập trong hoàn cảnh nội tình của triều đình phong kiến non trẻ còn nhiều bất ổn , nên chỉ một thời gian ngắn , đất nước ta lại phải đương đầu với quân xâm lược Tống từ phương Bắc tràn vào. Lý Thường Kiệt, một tướng lĩnh kiệt xuất của dân tộc , đã táo bạo đánh đòn phủ đầu vào kẻ thù ngay trên lãnh thổ của chúng , để phá mưu đồ xâm lược khi chúng chưa kịp xuất binh. Thêm một lần nữa vùng Đông Bắc ngày nay lại trở thành tiền đồn chống quân xâm lăng phương Bắc. Thực hiện ý định chiến lược của vị tướng Lý Thường Kiệt , các tù trưởng người dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc tập hợp các đạo quân bản địa, thông thạo địa hình, địa vật, thiện chiến với kiểu chiến tranh du kích vùng rừng núi. Các tù trưởng như Tôn Đản, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đã chỉ huy đạo quân sơn cước của mình vượt qua biên giới tiến sâu vào đất Tống , đánh vào các trại binh, các kho lương thảo làm cho quân Tống thất bại nặng nề, cản đường và hạn chế sức mạnh tiến quân của chúng . Quân Tống lấy số đông và cậy vào vũ khí mạnh hơn , đã tràn vào nước ta . Lý Thường Kiệt lại tin cậy giao cho các tù trưởng người dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc trấn giữ các nơi xung yếu, mai phục đánh úp các toán quân nhỏ lẻ, các đoàn tải lương tiếp tế, tiếp viện của địch. Tiêu biểu là trận phục kích của nghĩa quân do tù trưởng Thân Cảnh Phúc chỉ huy , trong tháng 1 năm 1077, đã đánh úp đạo quân Tống do Quách Quỳ dẫn đầu tại ải Chi Lăng, Lạng Sơn làm cho giặc kinh hồn bạt vía. Hoạt động mạnh mẽ đều khắp của các đạo quân tù trưởng dân tộc thiểu số trong vùng quân Tống chiếm đóng và những trận tập kích phía sau lưng đạo quân xâm lược đã làm quân địch suy yếu , góp phần bảo vệ phòng tuyến sông Cầu , ngăn chặn giặc chiếm kinh thành Thăng Long. Các đạo quân vùng Đông Bắc thời đó tuy nhỏ lẻ nhưng đã tạo thế trận liên hoàn , tạo chỗ dựa vững chắc cho đạo quân chủ lực dũng mãnh của Lý Thường Kiệt vượt phòng tuyến sông Cầu , phản công , quét sạch quân xâm lăng Tống ra khỏi bờ cõi nước ta. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược đã để lại nhiều bài học sâu sắc. Đó là sự đoàn kết , đồng lòng của các dân tộc anh em khi có kẻ thù xâm lược . Khả năng hợp đồng tác chiến giữa các cánh quân miền xuôi , miền ngược ; vai trò của các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số trong việc tập hợp dân chúng tham gia nghĩa quân , phát huy lợi thế tại chỗ, dựa vào địa hình rừng núi để đánh địch . Xây dựng được lòng tin giữa triều đình và tướng lĩnh triều đình phong kiến với đồng bào các dân tộc thiểu số , tù trưởng địa phương và ngược lại lòng tin của đồng bào với triều đình . Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc chống ngoại xâm cũng từ đó được hình thành , phát huy cao độ tinh thần yêu nước , tạo động lực to lớn cho cuộc kháng chiến . Trong thế kỷ XIII , ba lần quân xâm lược Nguyên Mông tấn công nước ta. Xuất hiện nhiều người con ưu tú của các dân tộc như Lương Uất , người dân tộc Tày ở Lạng Sơn , nhờ vào sự tinh tường địa hình , địa vật , nhờ kinh nghiệm nhiều năm án ngữ vùng phên dậu Đông Bắc , nên ông đã cung cấp thông tin chính xác , nhờ đó mà triều đình nhà Trần biết trước sự chuyển quân của giặc để chủ động bố trí đội hình phục kích , đánh chặn , cản đường tiến quân của chúng . Đầu năm 1258 đội quân của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đã truy đuổi toán quân Nguyên Mông rút chạy khỏi thành Thăng Long theo dọc sông Hồng , mở trận quyết chiến ở vùng đất Vĩnh Phúc ngày nay , tiêu diệt nhiều sinh lực địch . Vùng Tây Bắc thời đó có thủ lĩnh Hà Khuất dân tộc Mường nổi lên như một thủ lĩnh của cả vùng . Do tổ chức nắm tin từ nội gián , ông biết được hướng tiến quân của giặc , nên đã phối hợp kịp thời với các đạo quân nhà Trần chặn đánh địch ở vùng núi hiểm trở. Năm 1258 đồng bào Mường vùng sông Đà ,Cẩu Khê - Thanh Sơn, Thanh Thủy, Phú Thọ , đồng bào Tày, Mường , Mông , Dao vùng Tây Bắc cũng hăng hái theo các tướng lĩnh người dân tộc thiểu số , đánh úp toán quân Nguyên Mông rút lui bằng đường rừng chạy về bên kia biên giới ; Các cuộc nghi binh , phục kích , bí mật bất ngờ đã khiến quân Nguyên Mông hoảng loạn , kinh hồn bạt vía trên đường rút chạy . Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai, các tộc người trong vùng mà phần đông là người Tày , do Nguyễn Thế Lộc chỉ huy đã kiên cường chặn đánh địch ngay ở địa đầu xứ Lạng , ông đã phối hợp chặt chẽ với quân của triều đình phục kích trên đèo Sài Hồ , Lạng Sơn đánh thẳng vào doanh trại chủ tướng quân Nguyên , diệt nhiều sinh lực địch. Cùng vào khoảng giữa năm 1258 , trên đường quân Nguyên Mông tháo chạy về Vân Nam , dân binh vùng Đông Bắc do hai anh em người dân tộc thiểu số là Hà Chương, Hà Đặc chỉ huy lại phản công chặn địch, đánh úp, dùng kế nghi binh làm cho giặc bất ngờ, hoang mang, hoảng loạn , đạp lên nhau mà chết . Ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông đã nâng vai trò vị thế của các dân tộc vùng Đông Bắc ,Tây Bắc lên tầm cao mới. Sức mạnh đoàn kết dân tộc cùng với lòng yêu nước căm thù giặc của đồng bào đã được nhân lên gấp bội bởi những chỉ huy, thủ lĩnh tài giỏi thao lược, mưu trí quả cảm. Khả năng quân sự của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số đã đạt trình độ đánh đại binh, phối hợp với các tướng lĩnh triều đình ở quy mô lớn và những khu vực hiểm yếu. Vùng chiến địa rừng núi phía Bắc cũng là nơi mà kẻ thù Nguyên Mông xâm lược bị giáng trả mạnh nhất, tổn thất lớn nhất, gây ra nỗi kinh hoàng khiếp sợ nhất đối với chúng. Thế kỷ XV, quân xâm lược nhà Minh ở phương Bắc lại ồ ạt xâm chiếm nước ta. Đồng bào dân tộc thiểu số buộc phải chấp nhận cuộc đối đầu mới bạo tàn và khốc liệt hơn nhiều. Nếu những cuộc chiến tranh trước đây kẻ thù xâm lược với âm mưu chinh phạt là chủ yếu thì cuộc chiến tranh này, đồng bào ta phải gánh chịu cả một thế lực bành trướng dã man, thâm hiểm , với âm mưu thôn tính đất nước ta lâu dài . Khi nhà Minh đặt ách đô hộ, đồng bào Tày, Nùng và các tộc người anh em vùng Cao Bằng, Lạng Sơn đã hình thành những cuộc nổi dậy vũ trang chống lại mạnh mẽ. Giặc Minh phải chọn các tướng tài , các đội quân thiện chiến của chúng lên đàn áp nghĩa quân . Dựa vào thế rừng núi hiểm yếu vùng Quảng Nguyên, Cao Bằng, năm 1407, nghĩa binh Tày , Nùng đã đánh tan đội quân lên đàn áp phong trào, giết chết tên đô đốc cầm đầu là Cao Sĩ Văn. Nhà Minh phải phái Trịnh Dũng đưa quân lên ứng cứu để giải thoát cho đám tàn quân tại Quảng Nguyên . Tuy bình ổn được nhiều vùng , nhưng quân nhà Minh vẫn không sao làm chủ được các nơi thuộc miền Đông Bắc. Từ năm 1412 đến năm 1419, tại Lạng Sơn đã dấy lên cuộc khởi nghĩa chống Minh ở quy mô khu vực với sự tham gia của đồng bào các dân tộc trong vùng. Cuộc khởi nghĩa do Hoàng Thiên Hữu, Nguyễn Hách, Nông Văn Lịch chỉ huy đã đánh vào quân cai trị và xâm lược, giải phóng nhiều vùng đất. Giặc sai Mạc Thúy, một tên quan tay sai đưa quân lên đàn áp phong trào , đã bị nghĩa quân trừng trị, Mạc Thúy bị giết, quân giặc bị đánh tan tác. Phong trào khởi nghĩa chống giặc Minh còn phát triển ở vùng núi Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên do các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số Chu Sư Nhan, Dương Khắc Chung, Dương Thế Chân, Hoàng Am, Ông Lão lãnh đạo ,đã giáng những đòn chí mạng vào quân Minh ở lưu vực sông Thương, sông Cầu. Phong trào chống quân Minh xâm lược của đồng bào các dân tộc thiểu số dâng lên mạnh mẽ khi Lê Lợi đứng lên tụ nghĩa . Bốn anh hùng dân tộc Tày làng Lìu, xã Quang Lang, Chi Lăng, Lạng Sơn gồm hai anh em Hoàng Đại Huề, Hoàng Đại Liễu và hai em gái là Hoàng Thị Kim Liên, Hoàng Thị Kim Hoa đã trực tiếp tham gia trận quyết chiến chiến lược tại ải Chi Lăng, chém đầu tướng giặc Liễu Thăng ở Mã Yên Sơn . Cả bốn anh em đều hy sinh anh dũng trong trận huyết chiến lịch sử ; bà con trong vùng lập miếu thờ bốn anh em , tôn làm thành hoàng làng , họ trở thành niềm tự hào của đồng bào các dân tộc ở đây . Ở vùng Hòa An, Cao Bằng có một tướng lĩnh người Tày là Bế Khắc Thiệu , đã theo cùng Nguyễn Trãi phò tá Lê Lợi chống giặc Minh lập nhiều công trạng , sau này nhà vua đã lấy tên ông đặt cho một quả núi để ghi nhận chiến công . Trong vùng còn có cuộc nổi dậy của nghĩa quân áo đỏ chống giặc Minh ở vùng Đại Từ, Thái Nguyên gây tổn thất và hoảng loạn cho quân Minh đóng ở hai tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang . Đội quân áo đỏ còn phát triển đánh địch sang vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ . Ở Thanh Hóa, Ngay từ khi cuộc khởi nghĩa được Lê Lợi phát động năm 1418, đồng bào Mường, Thái, Thổ trong tỉnh đã dấy lên phong trào ủng hộ , tham gia . Đồng bào các dân tộc ở đây coi Lê Lợi không chỉ là thủ lĩnh của đất nước mà còn coi ông là thủ lĩnh của chính dân tộc mình . Cha đẻ của Lê Lai, người đóng giả Lê Lợi xả thân cứu chúa là tù trưởng nối dõi vùng Mường Lam Sơn. Những năm đầu tiên , thanh niên hào kiệt các vùng Mường theo nghĩa quân rất đông , nên nghĩa quân Lam Sơn được gọi là Đội lính Mường Lam Sơn. Vào năm 1419 , thời kỳ khốn khó của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân phải dời binh đóng tại vùng Lê Sơn, Quan Hóa. Tại đây, đồng bào các dân tộc Lào, Thái đã cung cấp cho cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi nhiều lương thực, voi, ngựa, vũ khí. Tháng 12-1419, nghĩa quân áo đỏ vùng dân tộc thiểu số do Lâu Bàn chỉ huy đánh địch ở vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh giết tuần kiểm giặc là Trương Tú, xây dựng căn cứ Lam Sơn ở Nghệ An. Đến năm 1424, cuộc khởi nghĩa buộc phải rút sâu vào miền Tây Nghệ An, đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng tham gia nghĩa quân tới 5000 người, tham gia vây hãm hạ thành Trà Lân, Con Cuông, giành thắng lợi trong sự nô nức của đồng bào các dân tộc anh em. Tại vùng Châu Mộc giữa đất đai rừng núi , địa bàn cư trú của người Thái Mai Châu , thuộc Hòa Bình ; Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu thuộc Sơn La , tù trưởng Sa Khả Sâm đã chiêu mộ lực lượng trong con em các dân tộc thiểu số , đông nhất là người Thái , theo Lê Lợi đánh giặc Minh . Nghĩa quân của đồng bào đã tổ chức các trận chiến đấu ở khắp nơi , đánh úp nhiều cánh quân nhà Minh ở vùng Châu Mộc, sau này được Lê Lợi ghi công trạng , Sa Khả Sâm được phong sắc và ban cho họ vua ; Các con của Sa Khả Sâm là Sa Khả Lộc, Sa Khả Khánh, Sa Khả Bàn, Sa Khả Điền cũng được mang họ Lê, được phong chức tước vì có công đánh giặc cứu nước trong cuộc kháng chiến chông quân Minh ở vùng Tây Bắc. Đồng bào Mường Hòa Bình cũng đã tham gia khởi nghĩa Lam Sơn với lực lượng rất hùng hậu, tạo bàn đạp cho nghĩa quân tiến vào đất Đông Quan - Thăng Long. Một thủ lĩnh người Mường có công được vua Lê gả công chúa . Hiện mộ táng của công chúa nhà Lê vẫn còn ở xứ Mường Định - Cao Khang thuộc tỉnh Hòa Bình. Trận quyết chiến chiến lược vây phá thành Đông Quan ngoài binh lính của Lê Lợi còn có sự dẫn đường, hỗ trợ của các cánh quân áo đỏ khởi binh từ Tây Nghệ An và đội quân của Sa Khả Sâm , khiến cho quân Vương Thông bị thất trận thảm hại. Có thể nói cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược được khởi xướng , xây dựng lực lượng con người , vũ khí , phương tiện bắt đầu ở vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, sau đó phát triển ra cả nước . Tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước chống ngoại xâm của đồng bào Tây Bắc dâng lên mạnh mẽ . Vai trò của đồng bào các dân tộc cùng với các thủ lĩnh người dân tộc đã kết nối được sức mạnh , liên kết các vùng miền , quy tụ dưới ngọn cờ đại nghĩa , chiến đấu quả cảm , ngoan cường , đánh thắng bọn xâm lược bạo tàn . Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và triều đại nhà Lê đã đặt Tây Bắc , tây Thanh Hóa ,Nghệ An vào vị trí chiến lược quan trọng , có tính chất quyết định cho công cuộc chống kẻ thù xâm lược thế kỷ XV. Sau khi đất nước thanh bình, Lê Lợi cùng triều thần nhà Lê vẫn coi trọng vùng đất Tây Bắc. Đích thân Lê Lợi đã ngược sông Đà lên sát biên giới miền Tây dẹp loạn, động viên đồng bào, khẳng định vị trí của Tây Bắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Dấu tích văn hóa khắc trên đá của Lê Lợi vẫn còn lưu ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, minh chứng cho tinh thần yêu nước, đoàn kết, giữ yên bờ cõi núi sông hiểm yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược toàn thắng đã để lại những bài học lịch sử vô giá đối với vùng đất của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và ở vùng Đông Bắc , Tây Bắc nói riêng. Đây là cuộc kháng chiến mà sức mạnh tổng hợp của đồng bào các dân tộc thiểu số được huy động ở mức độ cao, quy mô rộng. Vùng dân tộc thiểu số đã trở thành những căn cứ vững chắc chống xâm lăng , là địa bàn quan trọng xây dựng lực lượng để bí mật, bất ngờ tạo ra những trận quyết chiến chiến lược. Đã xuất hiện một cuộc chiến tranh nhân dân dưới ngọn cờ đại nghĩa , chứng minh rất sinh động sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em ; lợi ích, vận mệnh các dân tộc thiểu số đã gắn liền với lợi ích và vận mệnh của đất nước . Vì vậy cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đã phát triển ở mức độ toàn dân , toàn diện trong cả nước . Khi triều đình Mãn Thanh xâm lược nước ta , dưới sự chỉ huy thiên tài của Quang Trung - Nguyễn Huệ , đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc từ vùng rừng núi Nghệ An, Thanh Hóa đến Ninh Bình, Hòa Bình đã gia nhập vào đoàn quân thần tốc ; sự tham gia của thanh niên trai tráng vùng dân tộc thiếu số là một bất ngờ lớn của kẻ địch , bởi khả năng hành quân cắt đường rừng và lối đánh thọc sâu , chia cắt rất độc đáo và dũng mãnh của các đội quân sơn cước . Hai thủ lĩnh dân binh Mường là đô đốc Long, đô đốc Bảo đã dẫn quân Tây Sơn vượt rừng thần tốc, thực hiện chiến thuật, tạo bất ngờ lớn cho trận đánh mang tầm chiến lược , thọc sâu vào sào huyệt cuối cùng của quân Thanh . Nhờ có sự thông thạo của dân binh Mường mà quân Tây Sơn từ núi rừng Tam Điệp cắt đường qua Yên Mô, Nho Quan, Cúc Phương , Ninh Bình ,luồn sâu vào vùng Mường Lạc Sơn, Kim Bôi, Lương Sơn, Ba Thá, Miếu Môn , rồi bất ngờ đánh úp thành Thăng Long dẫn tới sự đại bại của quân Thanh. Cuối năm 1788 -1789, Quang Trung đã phong tước, phong hầu và khao thưởng cho những tướng sĩ dân binh Mường có công lớn tham gia đại phá quân Thanh xâm lược. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII , đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có Tây Bắc , Đông Bắc luôn là chỗ dựa tin cậy của triều đình , là hậu cứ vững chắc của các cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước . Khi Tổ quốc bị xâm lăng , Vùng dân tộc thiểu số luôn là nơi cung cấp voi chiến, ngựa chiến, là nơi sản xuất vũ khí thô sơ và các phương tiện để vũ trang đánh địch. Lòng trung thành , chất phác , sự khẳng khái và tài vận động chiến tranh, khả năng tác chiến vùng rừng núi của quân đội các dân tộc thiểu số là sức mạnh vô cùng to lớn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược lâu dài và anh dũng của dân tộc ; nghe tiếng các đội quân sơn cước, kẻ thù đã hồn bay , phách lạc , thất điên , bát đảo . Biểu tượng tướng giặc khi nghe tiếng trống đồng , chỉ một đêm mà hoảng sợ đến bạc tóc , đã nói lên sự hùng thiêng của vùng dân tộc ,miền núi nước ta . Cuối thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều thay đổi , chủ nghĩa Tư Bản chuyển sang giai đoạt tột cùng là chủ nghĩa đế quốc . Các cuộc xâm lăng phong kiến đã dần dần bị thay thế bằng chủ nghĩa thực dân xâm lược với những đội quân viễn chinh , nhà nghề , có vũ khí , công nghệ chiến tranh hiện đại , thay thế cho vũ khí thô sơ. Nơi đến xâm lăng của bọn thực dân thường là những vùng đất nghèo nàn lạc hậu so với sự phát triển vào thời kỳ công nghiệp và nền kinh tế thị trường của CNTB . Chính vì vậy bọn thực dân xâm lược thường lợi dụng sự yếu hèn của tầng lớp phong kiến bản địa và núp dưới chiêu bài văn minh khai hóa cho người bản xứ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã trở thành nơi để chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược. Nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ của hai tầng xiềng xích thực dân, phong kiến. Các cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc không ngừng nổ ra và đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc thêm một lần nữa phải đương đầu với kẻ thù xâm lược và sự áp bức bóc lột. Hà Văn Mao là thủ lĩnh người Mường ở Điền Lư, Bá Thước, Thanh Hóa , đã nổi dậy, tập hợp dân các bản mường , xây dựng cả căn cứ chống Pháp tại quê hương . Đêm mùng 8-11-1885, thủ lĩnh Hà Văn Mao chỉ huy tập kích đồn Bái Thượng trên phòng tuyến sông Chu . Năm 1886, ông hợp lực cùng Trần Xuân Soạn thuộc hạ của vua Hàm Nghi xây dựng căn cứ chống Pháp ở Mã Cao, Yên Lâm, Yên Định, Thanh Hóa. Nhiều lần đội quân Hà Văn Mao đã ứng cứu khi nghĩa quân Ba Đình bị vây hãm. Sau này, khi căn cứ Mã Cao, Yên Lâm, Yên Định thất thủ, Hà Văn Mao trở về quê hương tiếp tục dựa vào núi rừng hiểm trở, dựa vào đồng bào Mường trong vùng để đánh Pháp. Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân và Cao Điền chỉ huy năm 1888-1895 với sự tham gia chủ yếu là người Mường, người Dao, người Thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong số tướng tài của ngọn cờ tụ nghĩa Tống Duy Tân có Cầm Bá Thước người dân tộc Mường ở Vạn Xuân, Thường Xuân, Thanh Hóa. Ông là người quả cảm, tài ba, có uy tín lớn trong nhân dân . Có trận Cầm Bá Thước cầm quân chỉ vẻn vẹn 400 người mà đánh tan một đội quân Pháp đông gấp hàng chục lần , diệt nhiều sĩ quan binh lính địch. Thực dân Pháp cay cú , đã tập trung lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa , Tống Duy Tân bị giết hại, Cầm Bá Thước bí mật rút quân lên vùng núi , dựa vào rừng sâu , hiểm trở , sông ngòi rậm rạp , cùng Lang Chánh tiếp tục đánh Pháp đến cùng. Phong trào Cần Vương đã dấy lên mạnh mẽ trong vùng đồng bào Mường ở Hòa Bình, Ninh Bình. Nổi bật là khởi nghĩa của Đốc Ngữ, Đốc Tâm mà nhân dân thành kính gọi là nghĩa quân sông Đà. Theo lịch sử tỉnh Hòa Bình , Ninh Bình , năm 1886, nghĩa quân phục kích địch ở Nho Quan, Ninh Bình tiêu diệt nhiều sĩ quan binh lính Pháp ; năm 1891, nghĩa quân sông Đà của Đốc Ngữ đánh úp thị xã tỉnh lộ Chợ Bờ, tiếp đó năm 1892, tập kích đồn Yên Lãng trên phòng tuyến sông Đà của địch . Thực dân Pháp đánh giá nghĩa quân sông Đà là lực lượng khởi nghĩa đáng sợ nhất chưa từng có ở xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ. Trong vùng đồng bào Mường ở Hòa Bình những năm 1885-1892 tiếp tục nổ ra phong trào chống Pháp , đồng bào đã phối hợp với nghĩa quân sông Đà của Tổng Khiêm và của Đinh Công Uy là những thủ lĩnh người Mường ở địa phương để tổ chức nhiều trận đánh vào đồn lính Pháp . Một trong những trận đánh đó là trận do Tổng Khiêm chỉ huy đã giết chết tên giám binh Senhô và nhiều binh lính Pháp và phục kích địch trong nhiều trận liên tiếp, đe dọa và làm hao tổn đội quân Pháp đồn trú ở vùng cửa ngõ Tây Bắc. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích ở vùng Nghĩa Lộ, Yên Bái, Hòa Bình, Phú Thọ đã tập hợp đông đảo đồng bào Thái, Mường, Mông, Dao nổi dậy chống Pháp . Tháng 9 - 1888, giặc Pháp kéo quân lên Nghĩa Lộ đánh vào đại bản doanh của Nguyễn Quang Bích. Quân Pháp đã bị các cánh quân của Nguyễn Quang Bích người dân tộc Mông , Dao do Đào Chính Lục, Đặng Phúc Thành chỉ huy , bao vây tiêu diệt. Viện quân Pháp lên giải vây cũng bị đánh tơi bời. Tháng 10- 1888, địch càn quét lớn hòng bình định vùng này cũng bị nghĩa quân phục kích tiêu diệt phần lớn lực lượng. Hòa với phong trào Cần Vương ở các vùng trong cả nước , năm 1901, Triệu Tiến Tiên người Dao ở Bắc Hà, Lào Cai đã cùng với Triệu Tài Lộc, Triệu Tiến Kiên người Dao Bắc Quang ở Hà Giang , đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc trong vùng nổi dậy chống Pháp. Nổi bật là trận đánh vào đồn Nậm Lớp và huyện lị Bắc Hà và các trận phục kích vào đồn Pháp ở Lục Yên Châu năm 1913. Các thủ lĩnh ở đây đã gương lá cờ thêu dòng chữ “Tổ quốc bạch kỳ”, đồng bào các dân tộc trong vùng tham gia rất đông đảo . Tháng 9 - 1914, đoàn quân hàng mấy ngàn người , trang bị vũ khí thô sơ , bao vây hàng loạt đồn bốt ở Lục Yên Châu, Trái Hút, Bảo Hà, Phố Ràng và sau đó nghĩa quân đã dũng cảm tấn công đồn Pháp ở Yên Bái . Cuộc tấn công tuy không giành thắng lợi , nhưng ngọn lửa chống Pháp trong lòng người Dao và đồng bào các dân tộc ở đây vẫn âm ỉ cháy, nhen nhóm , củng cố lực lượng chờ đợi thời cơ mới . Cũng như nhiều dân tộc anh em, đồng bào Mông vùng Đông Bắc cũng đã nổi dậy đấu tranh vũ trang chống Pháp xâm lược. Trong hai năm 1886 - 1887 hai anh em Dương Chính Hồng, Dương Chính Vinh đã lãnh đạo đồng bào chống Pháp ở Bắc Hà từ đó ảnh hưởng lan sang người Mông các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Năm 1904 đồng bào Mông ở Cao Bằng, Lạng Sơn nổi lên đấu tranh chống chế độ thuế khóa hà khắc của thực dân Pháp . Năm 1911 Sùng Mí Chảng, dân tộc Mông ở Đồng Văn đã cùng đồng bào mình nổi dậy , kêu gọi được sự tham gia ủng hộ của các vùng khác , chỉ trong một thời gian ngắn đã tập hợp được gần một ngàn người , trang bị súng kíp , kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng và đấu tranh vũ trang. Đội quân người Mông đã tập kích đồn Thèng Phùng, Hà Giang , gây cho địch nhiều tổn thất và hoảng loạn tinh thần . Thực dân Pháp phải huy động quân chi viện , càn quét hơn một năm , đến khi Sùng Mí Chảng bị bắt 4-1912 phong trào mới tạm rút vào hoạt động bí mật . Đồng bào Mông Tây Bắc từ 1918 - 1922 nổi lên các cuộc vận động vũ trang chống Pháp do thủ lĩnh người Mông là Giàng Tả Chay chỉ huy. Cuộc khởi nghĩa gây ảnh hưởng lớn trong người Mông Tây Bắc và lan rộng sang vùng thượng Lào. Đồng bào Mông đánh địch đồng loạt đều khắp vùng Mường Phăng, Điện Biên, Long Hạ thuộc Tây Bắc, các tỉnh ở Lào như Xiêng Khoảng, Xêphôn, Nậm Hu trên địa bàn rộng tới mấy vạn kilômét vuông . Cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở vùng dân tộc Mông gây cho giặc Pháp nhiều thiệt hại nặng nề , chúng đã phải phái tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trực tiếp huy động quân chi viện và chỉ huy đàn áp cuộc khởi nghĩa . Cuộc nổi dậy chống Pháp xâm lược của đồng bào Mông ở Tây Bắc là đỉnh cao của phong trào đoàn kết yêu nước trong đồng bào Mông; là cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối cùng trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa đã nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước thể hiện sự gắn bó với các dân tộc anh em, gắn bó với Tổ quốc Việt Nam của đồng bào Mông ở Tây Bắc. Thời kỳ này , ở vùng Đông Bắc có Lương Tuấn Tú người Tày ở Hoà An , Cao Bằng đã sát cánh cùng Tôn Thất Thuyết mở cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở vùng rừng núi Cao Bằng từ năm 1887 đến năm 1895. Lợi dụng địa thế hiểm trở , nghĩa quân của Tôn Thất Thuyết do Lương Tuấn Tú chỉ huy đã tấn công đồn trú của quân Pháp hàng trăm trận , tiêu diệt nhiều sĩ quan binh lính Pháp , khiến cho trong nhiều năm thực dân Pháp không thiết lập được bộ máy cai trị ở Cao Bằng . Trong 3 năm 1886 - 1888 đồng bào các dân tộc vùng Bắc Sơn, Hữu Lũng Lạng Sơn do vị chỉ huy người Tày Hoàng Cai Kinh dẫn đầu, đã hoàn toàn kiểm soát tuyến đường Lạng Sơn - Phủ Lạng Thượng với nhiều trận đánh oanh liệt. Nổi bật nhất là trận tập kích tiêu diệt tên đại tá Pháp tại Bắc Sơn khi hắn dẫn quân đi đàn áp đồng bào vùng này. Trong các năm 1886 - 1890 đồng bào các dân tộc vùng Chợ Chu, Chợ Mới , Bắc Kạn, Thái Nguyên do Ba Kỳ lãnh đạo , đã lập căn cứ kháng Pháp, xây dựng lực lượng hùng hậu , đánh tan nhiều cuộc càn quét của hàng ngàn tên địch . Đồng bào các dân tộc ở Quảng Ninh hưởng ứng phong trào Cần Vương thành lập nhiều tổ chức để chống Pháp , với phương châm chủ động tìm Pháp mà diệt , phối hợp chặt chẽ với các cuộc khởi nghĩa trong cả nước. Trận tiến công tháng 11-1885 đã tiêu diệt nhiều lính Pháp quân Pháp, trong đó có toàn bộ phái đoàn của Pháp sang đàm phán biên giới với triều Mãn Thanh ,Trung Quốc. Người Hoa ở Móng Cái, Quảng Ninh đã hưởng ứng phong trào Cần Vương và là nòng cốt trong việc lập tổ chức “Thiên Địa hội” ở Quảng Ninh; căn cứ Bãi Sậy ở Hải Hưng . Phong trào bãi công chống Pháp của công nhân người Hoa ở các hầm mỏ đã dẫn đến việc hình thành căn cứ Vạn Hoa . Năm 1914, ông Lường Bảo Định người Hoa đã vận động bà con người Hoa cùng các dân tộc ở Sơn La đánh chiếm thị xã Sơn La, vượt sông Mã đánh chiếm Mường Thanh; ông Thàm Cay Sáy người Hoa ở Móng Cái đã cùng anh em binh lính bỏ thuốc độc vào trại lính Pháp, kế hoạch bị bại lộ giặc Pháp đàn áp rất dã man, mười hai người hi sinh, nhân dân Móng Cái đã lập đền thờ ghi nhận công lao này. Năm 1918, ông Thàm Cay Sáy, cùng Tằng Sáng Tủi đã chỉ huy đánh chiếm đồn Bình Liêu, Hoành Mô, Chúc Bài Sơn, Đầm Hà, Đông Triều, Tiên Yên…, tiêu diệt ba tên quan hai Pháp, cướp được nhiều vũ khí làm cho thực dân Pháp hết sức hoang mang. Phong trào Quang phục Hội những năm sau đã tiếp nối truyền thống bất khuất của Thiên địa hội nhưng lại đi sâu vào cả binh lính bản xứ. Các cuộc nổi dậy chống Pháp của đồng bào các dân tộc thiểu số đã bị đàn áp dã man nhưng không khuất phục được đồng bào ta. Lòng yêu nước căm thù giặc Pháp vẫn như ngọn lửa bền bỉ cháy trong lòng núi rừng Việt Bắc . Cuộc vận động chống Pháp của người Dao , bắt nguồn từ Đại Từ , Thái Nguyên do Bàn Kim Cấu chỉ huy với tên gọi là Minh Nhân vào năm 1938. Sau đó phong trào lan rộng sang các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc thể hiện tính quần chúng rất rộng lớn . Tuy không trở thành cuộc khởi nghĩa võ trang thực sự , nhưng đã khơi nguồn cho các cuộc vận động cách mạng trong vùng đồng bào Dao , và các dân tộc anh em vùng Đông Bắc những năm sau này. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến trước khi Đảng ta ra đời , hòa cùng phong trào đấu tranh cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc , đông Bắc đã tham gia các cuộc khởi nghĩa và chủ động tổ chức lực lượng nổi dậy vũ trang khởi nghĩa liên tục và đều khắp. Tuy các cuộc khởi nghĩa vùng dân tộc thiểu số bị kẻ thù đàn áp đẫm máu , nhưng lòng yêu nước , ý chí quật khởi và tinh thần đoàn kết dân tộc trong đồng bào dân tộc thiểu số luôn được hun đúc , nung nấu ; thể hiện sự tiếp nối những trang sử hào hùng của vùng núi phía Bắc qua các thời đại , như những cuộc diễn tập chuẩn bị cho một thời kỳ cách mạng mới, giành độc lập cho dân tộc , tự do , hạnh phúc cho con người .

II – Giai đoạn 1930- 1954 Để chuẩn bị cho phong trào cách mạng lâu dài , Bác Hồ rất tin tưởng vào đức tính trung thực , thật thà , chất phác của đồng bào dân tộc thiểu số nên người đã lựa chọn thanh niên ưu tú của các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng, Lạng Sơn đưa sang Trung Quốc đào tạo, rồi cử về xây dựng cơ sở trong nước ; tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Dong và Hoàng Văn Thụ . Năm 1927 hai anh đã tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên trong vùng ra đời tại Lạng Sơn vào năm 1929 , với 3 Đảng viên dân tộc thiểu số là Hoàng Đình Dong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Như , sau đó phát triển thêm nhiều đảng viên người địa phương. Năm 1930 chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ở Cao Bằng . Hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên đã tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lênin , các chủ trương của Đảng ở vùng Đông Bắc . Công tác tuyên truyền thời kỳ này gắn chặt với Phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nên những cuộc tuyên truyền giác ngộ vận động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy tác dụng , hiệu quả to lớn trong vùng dân tộc thiểu số. Ngày 27-9-1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, đồng bào các dân tộc thiểu số đã nổi dậy , xóa bỏ chính quyền tay sai, thành lập đội du kích hơn 600 người. Các đội cứu quốc quân vũ trang được thành lập và chính quyền cách mạng ở cơ sở ra đời đã tạo chỗ dựa chính trị vững chắc cho khu du kích Bắc Sơn - Võ Nhai hình thành, phát triển . Lo sợ trước làn sóng cách mạng vùng dân tộc thiểu số mà khởi đầu là khởi nghĩa Bắc Sơn , giặc Pháp đã phải huy động tới 4000 quân , tiến hành khủng bố trắng , nhưng hoạt động du kích vùng chiến khu vẫn giữ vững . Các chiến khu Ngọc Trạo, Đông Triều Quảng Ninh đã hình thành thế liên hoàn của du kích Bắc Sơn, trở thành những căn cứ lớn của cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Khởi nghĩa Bắc Sơn và việc ra đời đội vũ trang cách mạng, khu du kích căn cứ cách mạng trong vùng dân tộc thiểu số Đông Bắc là thể hiện tấm lòng kiên trung của đồng bào các dân tộc thiếu số một lòng theo Đảng , theo cách mạng , quyết tâm đánh đổ bọn thực dân , phát xít xâm lược và bọn phong kiến tay sai. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ địa thế chiến lược của vùng Đông Bắc mà trung tâm là Việt Bắc , người nhận thấy lòng yêu nước , tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí kiên cường dũng cảm của đồng bào các dân tộc , nên đã chọn Pắc Bó , Cao Bằng làm nơi đặt chân đầu tiên sau ba mươi năm bôn ba hải ngoại đi tìm đường cứu nước để trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng . Bác Hồ đã dày công cùng với trung ương Đảng xây dựng và không ngừng củng cố cơ sở cách mạng vững vàng ở vùng Đông Bắc , mở đầu cho trang sử đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc. Ngày 8-1-1941, Hồ Chủ tịch vượt cột mốc biên giới về hang Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng trong sự chở che , bảo vệ, nuôi dưỡng của đồng bào các dân tộc nơi đây. Cũng tại nơi này hội nghị Trung ương Đảng ta lần thứ VIII do Hồ Chủ tịch chủ trì đã quyết định đường lối xây dựng các tổ chức cách mạng, thành lập mặt trận đoàn kết thống nhất dân tộc , gọi tắt là mặt trận Việt Minh ; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng , chuẩn bị các điều kiện và thời cơ thuận lợi tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 22-12-1944 , đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Cao Bằng . Trong 34 chiến sĩ đầu tiên, có 29 chiến sĩ là người dân tộc thiểu số. Đó là những chiến sĩ ưu tú góp phần xây dựng nên lực lượng vũ trang hùng mạnh của quân đội ta . Cũng tại khu căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, quốc dân Đại hội ra mệnh lệnh tổng khởi nghĩa, thành lập chính phủ lâm thời ; hợp nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với Cứu quốc quân thành giải phóng quân Việt Nam . Ở vùng Tây Bắc , bắc Trung bộ ngay từ năm 1930 -1931, cơ sở Đảng trong vùng dân tộc Thái đầu tiên được thành lập tại xã Môn Sơn, Con Cuông, Nghệ An. Năm 1940 -1941, các chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên cũng được ra đời tại vùng có đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hóa. Tổ chức cơ sở Đảng thành lập và mở rộng ở Tây Bắc là bước ngoặt trong lịch sử của đồng bào các dân tộc thiểu số, thổi luồng gió mới vào truyền thống đoàn kết yêu nước đấu tranh giành tự do, độc lập . Thông qua tổ chức mặt trận của Đảng, mặt trận Việt Minh, tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc đã có bước phát triển mới. Từ chỗ phong trào chống thực dân phong kiến nổi dậy tự phát , lẻ tẻ ở từng địa bàn, nay phong trào Cách mạng vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc thực sự tạo được khối đoàn kết , thống nhất , được tổ chức chặt chẽ , theo đường lối và phương châm , sách lược đúng đắn . với sự ra đời và hoạt động của chi bộ Đảng ở nhà tù Sơn La , các cán bộ cách mạnh vượt ngục , được nhân dân các dân tộc che chở ; nhờ các cuộc tuyên truyền vận động của số đảng viên này mà vào những năm bốn mươi , nhiều cán bộ người dân tộc vùng Sơn La, Hòa Bình được giác ngộ trở thành hạt giống đỏ của Cách mạng . Nhiều căn cứ Cách mạng trong lòng đồng bào dân tộc thiểu số như chiến khu Mường Khói ở Hòa Bình ; chiến khu Diễn - Hiền Lương - Tu Lý ở vùng đồng bào Tày, Thái, Dao, Mông, Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ . Đây là những căn cứ cách mạng làm cơ sở chuẩn bị cho việc nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân . Cùng với cả nước, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã giành được thắng lợi long trời lở đất ở vùng Tây Bắc , trước sự hân hoan chào đón của đồng bào các dân tộc. * Cùng với các dân tộc anh em , đồng bào người Hoa đã theo Đảng, đoàn kết với các dân tộc cùng chung lưng đấu cật chống giặc ngoại xâm . Bà con Hoa kiều đã lập các trạm liên lạc để đưa cán bộ Việt minh sang Trung Quốc đào tạo trong đó có đồng chí Trần Phú. Năm 1935, nhiều tổ chức người Hoa được thành lập như “Tiến Đức xã”, “Hải Yến xã”, “Liên quân” để tuyên truyền vận động người Hoa tham gia kháng chiến, nuôi dấu cán bộ, tham gia cướp chính quyền từ tay Pháp - Nhật. Khi Pháp trở lại xâm chiếm nước ta, đồng bào người Hoa cùng sát cánh với các đội du kích chiến đấu giữ xóm làng. Các khu du kích của người Hoa phát triển rộng khắp: Mã Đầu Sơn, Mã Yên Sơn, Hà Cối, Đông Triều, Yên Hưng, Đồng Bành. Trung đoàn Độc Lập là đơn vị của các chiến sĩ người Hoa đã tham gia chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau giải phóng, đồng bào người Hoa tích cực tham xây dựng chính quyền, hăng hái lao động sản xuất, đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Có hợp tác xã Tân Giáo của người Hoa đã bắn rơi máy bay Mỹ, được tặng thưởng Huân chương chiến công. Người Hoa tham gia lực lượng vũ trang, giải phóng miền Nam và hoàn thành nhiệm vụ sản xuất ở hậu phương với khẩu hiệu “Thóc thừa cân, quân thừa người”. Đồng bào người Hoa ở Nam bộ cũng tích cực tham gia cách mạng từ những năm chống thực dân Pháp. Nhiều người con ưu tú người Hoa đã tham gia Đảng cộng sản Đông Dương. Ban Hoa vận được thành lập khắp các tỉnh thành phía Nam, bà con xây dựng các cơ sở nuôi dấu cán bộ cách mạng. Chùa Ông ở quận Ninh Kiều, Cần Thơ là nơi hoạt động bí mật của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, về sau là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí của quân giải phóng. Đồng bào Khmer là một cộng đồng sinh sống lâu đời trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ, là một trong những chủ nhân cùng với các dân tộc anh em có công khai phá tạo lập, giữ gìn và bảo vệ vùng đất phía nam thân yêu của Tổ quốc . Đúng như cái tên Khmer theo tiếng Phạn “Khê ma ra” có nghĩa là an bình , hạnh phúc. Đồng bào Khmer lao động cần cù, sống nhân ái theo giáo lý đạo Phật ; là cộng đồng sinh sống với truyền thống văn hóa yêu nước cách mạng và nhân ái , đồng bào Khmer nam bộ luôn gắn bó với cộng đồng quốc gia dân tộc , cùng chung vai đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc . Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc , đồng bào các dân tộc nói chung và đông bào Khmer nói riêng vốn giàu truyền thống yêu nước, yêu lao động , sống nhân nghĩa, cùng đoàn kết chia ngọt sẻ bùi,vượt qua muôn vàn thử thách của điều kiện tự nhiên và xã hội , để tồn tại và phát triển . Khi Nhà Nguyễn thi hành chính sách bóc lột người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thì người Việt và Khmer vốn đã có sự tiếp xúc giao lưu văn hoá và hiểu biết, sống thân thiện tôn trọng nhau nay lại càng gắn bó hơn trong cuộc đấu tranh chống lại chính sách chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột nông dân đồng bằng sông Cửu Long của nhà Nguyễn . Nhiều cuộc nổi dậy của người Khmer ở Trà Vinh và người Việt ở Vĩnh Long và các địa phương khác đã bùng nổ , chống lại chế độ, chính sách hà khắc đó . Sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn mở rộng các đồn điền ở Sóc Trăng, Tịnh Biên , An Giang bắt người Khmer đào kênh Thoại Ngọc Hầu năm 1818, kênh Vĩnh Tế năm 1819. Để chống lại chính sách đồng hóa của nhà Nguyễn , một mặt tăng cường đấu tranh , một mặt đồng bào Khmer lại càng gắn bó tha thiết vời Phật giáo . Các sư sãi đã dùng chùa làm trường học chữ Phạn, làm trung tâm truyền bá nếp sống và văn hoá phật giáo, làm nơi hội tụ mọi sinh hoạt của người dân Khmer . Sau khi thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ đầu thế kỷ XX, chúng đã thực hiện chính sách khai thác đồng bằng sông Cửu Long thành một trung tâm cảng lúa gạo lớn ở Đông Nam á. Pháp thực hiện ở đây chế độ “duy trì xã hội nguyên trạng”, đề phòng các cuộc nổi dậy của nông dân ; chúng vừa thực hiện âm mưu thâm độc chia rẽ dân tộc Khmer - Việt, vừa thực hiện chính sách đưa những người nông dân đồng bằng Bắc Bộ vào đồng bằng sông Cửu Long khai khẩn từ lâu đời để khai thác lúa gạo . Thực dân Pháp vừa đề cao sư sãi, đề cao văn hoá Phật giáo của người Khmer, vừa đề cao tướng tá triều Nguyễn như Thoại Ngọc Hầu, Trương Minh Giảng, Lê Văn Duỵêt . Bọn thực dân Pháp vừa khuyến khích dạy chữ Phạn trong chùa, vừa mở trường dạy tiếng Khmer trong những năm đầu cấp vừa dạy tiếng Pháp . Thực dân Pháp cố tìm mọi cách để gây chia rẽ dân tộc; chúng tiếp tục dùng chính sách “chia để trị” nhằm tách người Khmer ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Chúng khoét sâu vấn đề lịch sử, sự khác biệt về văn hóa, chính trị, gây kỳ thị sâu sắc giữa người Việt và người Khmer . Bên cạnh đó, Pháp tiến hành đào tạo tầng lớp sư sãi, trí thức Khmer phục vụ cho yêu cầu chính trị của chế độ thực dân; mở trường dạy chữ Khmer và chữ Pháp do giáo viên người Khmer và người Pháp đảm nhiệm. Chúng cho thành lập chi nhánh “Phân bộ địa phương và viện Phật học Nam kỳ”, lập “Liên đoàn cải thiện tinh thần, trí thức và thể lực của người Cao Miên ở Nam kỳ” đặt tại Ba Xuyên , nay là tỉnh Sóc Trăng , nhằm gây ảnh hưởng của người Pháp đối với đồng bào Khmer . Về mặt hành chính, thực dân Pháp tập hợp người Khmer thành các “tổng tự trị” do người Khmer tự điều hành . Thâm độc hơn , thực dân Pháp ủng hộ việc phân chia hai hệ phái trong Phật giáo Nam Tông Khmer là Mahanikai và Thomajud và khoét sâu sự khác biệt về hình thức giữa hai phái bôran và phái samay ; chúng khai thác triệt để sự khác biệt về tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán của người Khmer và người Việt; lợi dụng sự phản kháng của người Khmer đối với chính sách áp bức, đồng hóa dân tộc của triều Nguyễn để kích động gây chia rẽ, hận thù dân tộc. Chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp trong thời điểm này đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng trong quan hệ giữa các dân tộc anh em Từ ngày có Đảng lãnh đạo , phong trào đấu tranh của người Khmer ở Nam Bộ chuyển sang giai đoạn đấu tranh tự giác , có tổ chức .Tình đoàn kết đấu tranh của người Khmer và người Việt được tiếp thêm sức sống mới . Trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp về kinh tế, chính trị - xã hội nhằm thực hiện âm mưu “chia để trị”, phá hoại khối đoàn kết dân tộc ở khu vực Nam Bộ . Các tổ chức Đảng đã tập trung vào việc xây dựng, củng cố khối đoàn kết Việt –Khmer , lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống âm mưu thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp; thông qua các cuộc vận động nông dân Khmer tham gia vào “Hội tương tế ái hữu” với người Việt để cùng đấu tranh chống hành động của địa chủ cướp ruộng đất của nông dân ; đòi quyền dân sinh dân chủ ; tham gia các tổ chức cách mạng như “Nông hội”, “Cứu tế đỏ”, “Vạn vần đổi công”. Cuộc đấu tranh của người Khmer ở Rạch Giá do Mai Văn Dung chỉ huy, đã tổ chức phục kích, cắt đường giao thông, tiêu diệt các phương tiện của địch , làm chủ được nhiều vùng rộng lớn . Nhiều gương chiến đấu hi sinh anh dũng , nhất là Thạnh Ngọc Biên , một người con ưu tú của đồng bào Khmer , đã tô thắm truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng kiên cường của đồng bào Khmer. Đồng bào Việt và đồng bào Khmer ngày càng thấy rõ bộ mặt thật của thực dân Pháp ,thấy rõ lợi ích quốc gia và của dân tộc mình , do đó tình đoàn kết ngày càng gắn bó . Khi ở những vùng đồng bào Khmer mất mùa , Đảng ta đã phát động phong trào vay lúa của người giàu để cứu đói cho người nghèo , những việc làm cụ thể đó càng làm thức tỉnh thêm lòng nhân ái đoàn kết trong đồng bào Khmer . Trong những năm 1930 - 1931, tại Trà Vinh, Vĩnh Long, phong trào đấu tranh đòi xóa bỏ sưu cao, thuế nặng , giảm tô tức dâng lên mạnh mẽ . Qua các phong trào đó , đồng bào Khmer ngày càng nhận thức rõ hơn khả năng và sức mạnh to lớn của chính cộng đồng của mình , từ đó tin tưởng vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng, chống chế độ thuộc địa, phong kiến , chống phát xít, đòi tự do dân chủ cho nhân dân . Nhiều thanh niên, trí thức Khmer Nam Bộ đã đi sâu vào phong trào quần chúng , tuyên truyền thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Đảng , chương trình Việt Minh với nhiều hình thức phong phú và những nội dung ngắn gọn như “Đất nước độc lập”, “Dân tộc bình đẳng”, “Người cày có ruộng”, “Tự do tín ngưỡng”, đã đáp ứng được tâm tư nguyện vọng tha thiết của các tấng lớp đồng bào Khmer ở khắp vùng Nam Bộ . Sau năm 1945 thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, cuộc kháng chiến toàn diện chống thực dân Pháp đã thu hút được đông đảo đồng bào Khmer tham gia . Nhiều căn cứ kháng chiến , là nơi tập trung lực lượng yêu nước của Nam Bộ đã được xây dựng và phát triển trong vùng đồng bào Khmer . Các tổ chức cách mạng đã vận động được đông đảo đồng bào và sư sãi Khmer tham gia vào lực lượng và các hoạt động cách mạng ở các khu căn cứ này , tạo ra những tiền đề quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai , giành độc lập cho dân tộc , tự do , hạnh phúc cho nhân dân . Sau khi giành được chính quyền, nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ; ngày 03-05-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 58/SL, thành lập Nha Dân tộc thiểu số trực thuộc Bộ Nội Vụ . Thực hiện chủ trương của trung ương , ở vùng dân tộc Khmer Nam Bộ đã từng bước hình thành các tổ chức làm công tác dân tộc, công tác tôn giáo, nhưng lúc đó hoạt động như một tổ chức đoàn thể , như Hội ủng hộ Issarăk, Hội Cao Miên tự do, Ban Sãi Vận . Với sự hoạt động của các tổ chức trên, đồng bào Khmer ngày càng hiểu và tin theo cách mạng, tin theo Đảng, thực hiện khối đoàn kết Việt - Khmer, chống lại âm mưu chia để trị và các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù . Tinh thần yêu nước và những hoạt động cách mạng của đồng bào và sư sãi Khmer trong kháng chiến chống Pháp đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc. * Ngay từ khi đặt chân tới Tây Nguyên, thực dân Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của đồng bào các dân tộc Tây nguyên bất khuất kiên cường . Phong trào chống Pháp của thủ lĩnh N’Trang Lơng , dân tộc M’nông , đã nhanh chóng lan rộng khắp vùng trung và bắc Tây Nguyên trong suốt những năm đầu thế kỷ XX . N’Trang Lơng , tức là ông Lơng bố đẻ của cô H’Trang , ông sinh khoảng năm 1870 ở làng Bu Pơr , một làng dưới chân núi Nâm D’rôn , nay thuộc Campuchia . Hai vợ chồng ông có 4 người con , người con đầu là gái , tên là H’Trang , Người vợ đầu của ông là bà H’Bal cùng với cả 4 người con , tất cả đều bị bọn lính Pháp ở đồn Bu Xra hãm hiếp, giết chết từ năm 1912. Căm thù lũ giặc tàn ác, N’Trang Lơng đã kiên cường phát động phong trào chống Pháp , ông kêu gọi người M’nông và Xtiêng ở khu vực tiếp giáp hai nước Việt Nam và Campuchia tổ chức đánh Pháp suốt 25 năm , từ năm 1911 đến năm 1936 , tiêu diệt nhiều binh lính Pháp , làm nên những chiến công oanh liệt, không cho chúng đứng chân yên ổn , buộc chúng phải rút khỏi cao nguyên M’nông . Những chiến công của N’Trang Lơng đã cổ vũ lòng yêu nước và sức mạnh của đồng bào Tây Nguyên , khơi dậy nhiều phong trào chống Pháp khác trên toàn miền cao nguyên Nam Đông Dương, làm cho thực dân Pháp thất điên bát đảo . Đồng bào các dân tộc Ba Na ở phía nam, phía bắc đường 19 , tỉnh Gia Lai , đã nổi dậy chống lại các cuộc hành quân của thực dân Pháp nhằm bắt lính , bắt xâu, thu thuế . Dân các làng Đe Chgang, Đe Krúi , làng Thắng Lớn, Thắng Nhỏ, các làng Mok, Bung, Phei, Đe Kik, Đe Groi, Đe Sơró, Đe Bar, vùng Su.. dưới sự lãnh đạo của các già làng, tù trưởng đã tổ chức bố phòng cắm chông, đặt bẫy đá, lập chướng ngại vật trên các trục đường nối với đường 19 và tổ chức phục kích, đánh úp các toán quân Pháp gây cho chúng thiệt hại rất nặng nề . Ở Lâm Đồng, có một phong trào quần chúng rất độc đáo , bắt nguồn từ phong trào Nước Xu được gọi là phong trào “Nước Vía” , do một phụ nữ dân tộc Kơho là Chu Hoi cùng cha là Chu Ro - một thủ lĩnh của người Kơho rất có uy tín đề xướng nên . là một phụ nữ có ngoại hình khá đặc biệt so với cộng đồng các dân tộc Tây Núp dưới danh nghĩa “thầy cúng” hai cha con Chu Hoi đã vận động nhân dân tổ chức các hoạt động chống Pháp . Chu Hoi có nước da và tóc đều trắng toát, nên những người trong vùng thường gọi là “Mụ Kộ” - có nghĩa là “Bà Trắng”, và phong trào chống Pháp do cha con bà dấy lên cũng được gọi là phong trào Mụ Kộ . Hai cha con Chu Hoi thường tổ chức những buổi lễ hiến sinh ở đền Đa Sa, trong làng Đông Đor , nay thuộc huyện Di Linh . Những người đi cúng chỉ cần mang theo 2 đồng xu để làm lễ vật , không phải dùng những chiếc vòng đồng vẫn được sử dụng trong các nghi lễ cam kết với thần linh của người Tây Nguyên , để những người nghèo nhất không có vòng đồng vẫn đi được . Một đồng để lại nơi cúng và một đồng người đi cúng được mang theo về gia đình làm bùa hộ mệnh . Đây là vật cam kết giữa những người tham gia phong trào với thần linh để khi xảy ra trận Đại hồng thủy sẽ được cứu thoát ; cha con Mụ Kộ đã tiên đoán là nạn hồng thủy sẽ nổ ra vào năm 1937. Lời khấn của Chu Hoi khi khấn lễ đã thể hiện rõ tinh thần đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên : “Hỡi thần núi Gun Ré, hỡi thần núi Can Rang, hỡi thần linh núi Đa Sa, hỡi thần linh vùng Klan Bun, hỡi thần linh vùng Tou Krem, hỡi thần linh vùng Brun Nét, hỡi thần linh vùng Tou To Nung, hỡi thần linh vùng Bun Kren, hỡi thần linh vùng núi Tao Dung triền phải, hỡi thần linh vùng núi Tao Dra triền trái, các người hãy giết chết người Pháp, ám sát người Pháp, chém đầu người Pháp, lấy giáo đâm người Pháp. Hãy để người Thượng, người Chàm, người An Nam sống chung, đừng giết chúng nó, đừng đánh đập chúng nó, hãy để chúng nó ăn cháo cùng nhau, hãy để chúng nó ăn cơm cùng nhau” . Tại tỉnh Kon Tum, một chi bộ trong nhà lao Kon Tum đã được thành lập gồm 4 đảng viên, do đồng chí Ngô Đức Đệ làm Bí thư vào khoảng tháng 9 năm 1930 . Những hạt giống cách mạng được sản sinh ra từ chốn lao tù như Ngục Đak Glei, Ngục Kon Tum, Nhà lao Pleiku, Nhà đày Buôn Ma Thuột... đã làm nòng cốt cho phong trào cách mạng và có ảnh hưởng lớn đến đồng bào các dân tộc trong vùng nhờ đó phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ trong và sau Cách mạng tháng 8 năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công , nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ vừa ra đời đã phải đối phó với nhiều kẻ thù và bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp . Chính quyền cách mạng của các tỉnh Tây Nguyên lãnh đạo nhân dân đoàn kết xây dựng lực lượng về mọi mặt để chuẩn bị kháng chiến . Theo chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ uỷ Trung kỳ đã cử cán bộ lên Tây Nguyên để chỉ đạo phong trào, phát triển cán bộ, đảng viên . Nhiều thanh niên hoạt động tích cực trong phong trào ở cơ sở , trong các đồn điền trước và sau tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã được phát hiện , tuyên truyền, giáo dục , bồi dưỡng để lựa chọn kết nạp vào Đảng , bổ sung lực lượng cán bộ tại chỗ cho Tây Nguyên . Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững quyền tự do, độc lập, bảo vệ chế độ mới. Các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ được khái quát thành khẩu hiệu chiến lược “Kháng chiến, kiến quốc”. Do vị trí trọng yếu của Tây Nguyên, nên đầu năm 1946 thực dân Pháp đã huy động lực lượng đánh chiếm toàn bộ Tây Nguyên ; chúng xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc, mở rộng các đồn điền, thực hiện âm mưu “ chia để trị”, lập ra các tiểu đoàn người địa phương để đàn áp quần chúng , gây hằn thù giữa các dân tộc. Cùng nhân dân cả nước, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Trung Trung Bộ đã lập các đơn vị vũ trang: tiểu đoàn N’ Trang Lơng của người M’Nông, Ê Đê, Gia Rai; đại đội Kông Prông của người Ba Na; tiểu đoàn Sơn Hà, Đinh Trọng của người H’Rê, đã chiến đấu anh dũng trong các chiến dịch Nguyễn Huệ , Măng Yang, An Khê, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, chi viện tích cực cho các chiến trường. ở các xã khắp vùng Tây Nguyên hình thành nhiều đội du kích chiến đấu chống Pháp mà tiêu biểu là làng Stor do anh hùng Núp lãnh đạo, đã ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta một chiến công chói lọi . Trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến, anh hùng Núp đã lãnh đạo du kích Stor gài bẫy đá chông, cung nỏ, đánh tan hàng chục cuộc càn quét của địch; chín lần phải dời làng chiến đấu trong hoàn cảnh thiếu gạo, thiếu muối, nhưng đội du kích của anh hùng Núp có trận đã đánh bại cả một trung đoàn địch trong suốt bảy ngày đêm . Ở các tỉnh, các huyện, ủy ban cách mạng lâm thời được cải tổ thành ủy ban hành chính có đủ 5 thành viên, trong đó có 2 thành viên là người dân tộc thiểu số. Nhiều nơi ngoài thành phần cơ bản trong các ủy ban hành chính, còn tăng thêm thành phần người dân tộc thiểu số có uy tín. Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số mỗi làng có chủ tịch và phó chủ tịch do dân bầu những người có uy tín trong làng . Ủy ban hành chính và Việt Minh các tỉnh chỉ thị cho ủy ban hành chính các huyện, xã, thôn, làng thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân, quyền bình đẳng các dân tộc, bình đẳng nam nữ, xoá bỏ thuế thân và các thứ thuế hà khắc khác ; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị dân tộc, cấm cán bộ và người Kinh dùng từ “Mọi”, “Xứ Mọi” do thực dân Pháp gọi miệt thị đồng bào dân tộc thiểu số . Đầu tháng 1-1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu phái đoàn của Trung ương Đảng và Chính phủ vào Nam Trung Bộ và Tây Nguyên kiểm tra tình hình chiến trường, thăm các đơn vị bộ đội ở Tây Nguyên và truyền đạt chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ cho các chiến khu và các tỉnh . Trong buổi nói chuyện với cán bộ quân dân chính đảng tại nhà gỗ , số 1 Hoàng Hoa Thám, Pleiku, hiện nay là cơ quan của Ngân hàng chính sách tỉnh Gia Lai , đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn việc chấp hành các chỉ thị của trung ương , củng cố các mặt công tác, đồng thời chú ý vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng . Lợi dụng khi đang đàm phán hoà bình , quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Tây Nguyên, chúng thoả thuận với lãnh đạo tỉnh Gia Lai tổ chức một hội nghị đàm phán tại Bô Keo , Campuchia . Trong cuộc đàm phán này, thực dân Pháp yêu cầu phía Việt Minh rút quân lùi về phía sau phòng tuyến, phá bỏ các chướng ngại vật trên đường 19 , mở đường cho chúng vào tiếp quản các đồn điền...thực chất là để chúng tái xâm lược Gia Lai . Phái đoàn ta kiên quyết bác bỏ các yêu sách vô lý của chúng và tuyên bố sẵn sàng giáng trả, nếu Pháp ngoan cố, có những hành động vi phạm hiệp định . Cuộc đàm phán không có kết quả, Pháp tập trung lực lượng và các phương tiện chiến tranh ở Bô Keo - Bô Khăm , Campuchia và Buôn Hồ , Dăk Lăk , khiêu khích, tổ chức nhiều đợt tấn công vào tuyến phòng thủ của quân ta để lấn chiếm , nhưng bị quân ta đánh trả quyết liệt, chúng phải co cụm lại. Thực dân Pháp và bọn tay sai biết rõ ở Nam Trung Bộ nói chung, Tây Nguyên nói riêng là địa bàn có nhiều thành phần dân tộc cư trú nên chúng đã dùng mọi thủ đoạn để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ở vùng này . Nhận biết âm mưu của địch, để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 3-1946 ủy ban hành chính Trung Bộ quyết định thành lập Ban vận động quốc dân thiểu số miền Nam Trung Bộ . Ở Tây Nguyên, tháng 6-1946, thành lập Phân ban quốc dân thiểu số Tây Nam ; ở các tỉnh cũng thành lập Phòng quốc dân thiểu số để góp sức cùng ủy ban Hành chính tỉnh tăng cường công tác vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế, văn hoá, cải thiện đời sống của nhân dân . Công tác dân tộc, việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc được Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt . Mặc dù trong hoàn cảnh phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, đặc biệt là quân Pháp đang áp sát biên giới, nhưng ngày 19-4-1946, Đại hội các dân tộc thiểu số Miền Nam được tổ chức tại thị xã Pleiku với hơn 1000 người tham dự, bao gồm đại biểu các dân tộc Tây Nguyên và miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ. Trong lễ khai mạc, Đại hội trân trọng đón thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh do đồng chí Tố Hữu, phái viên của Trung ương và đồng chí Bùi San đại diện Xứ ủy Trung Kỳ mang đến . Đại hội vô cùng xúc động trước sự chỉ bảo ân cần của Bác : “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt” . Các đại biểu dự đại hội xúc động được tặng ảnh Bác Hồ và nghe lời kêu gọi đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng thấm sâu tình cảm của Người đối với đồng bào Tây Nguyên. Nhiều đại biểu giữ bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt nhiều năm sau . Đại hội đoàn kết các dân tộc đã làm khơi dậy tinh thần yêu nước , tin tưởng vào Đảng và Bác Hồ làm cho tình đoàn kết các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được tăng cường , đánh bại âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp khi đánh chiếm Tây Nguyên . Đại hội là biêủ tượng đẹp đẽ về tinh thần đoàn kết kháng chiến giữa đồng bào các dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với đồng bào và cán bộ người Kinh trong sự nghiệp cứu nước. Cũng trong ngày 19-4-1946, khi Đại hội đoàn kết dân tộc khai mạc, tại thành phố Đà Lạt, đoàn đại biểu Chính phủ ta do đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đã cùng phái đoàn Pháp họp hội nghị trù bị để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp sẽ tiến hành tại Pháp. Nhưng do chính sách phản động, hiếu chiến, thái độ ngoan cố của thực dân Pháp mà hội nghị đã bị thất bại không đạt được kết quả nào. Tình hình chiến sự giữa ta và Pháp ngày một quyết liệt . Tại mặt trận Tây Nam Bộ và Tây Nguyên, quân Pháp khiêu khích tấn công quân sự, khủng bố nhân dân ta . Ở phía Tây và Nam Gia Lai, địch mở những cuộc tấn công vào tuyến phòng thủ của ta , nhưng bị bộ đội ta đánh bại, buộc phải trở lui về vị trí cũ . Tuy vậy, chúng vẫn mở nhiều cuộc tấn công có tính chất thăm dò. Đầu tháng 6 năm 1946, trên 5000 quân Pháp tập trung ở phía Tây và Nam, chuẩn bị tấn công theo đường 14 và 19 . Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam ra lệnh các đơn vị trên toàn Tây Nguyên chuẩn bị đánh địch. Theo lịch sử của các tỉnh Tây Nguyên ,Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính các tỉnh Tây Nguyên đã khẩn trương thực hiện tiêu thổ kháng chiến . Công nhân các đồn điền, nhân dân vùng người Kinh, vùng dân tộc thiểu số... được lệnh chủ động phá cầu cống trên đường 14, 19, vận chuyển máy móc, kho tàng lương thực về căn cứ địa cất giấu. Các cơ quan lãnh đạo của các tỉnh cũng sơ tán về vùng rừng núi , cách xa các khu đô thị , thị xã , thị trấn . Nông dân, công nhân ở thị xã, thị trấn, đồn điền được lệnh tản cư về đồng bằng trước khi quân Pháp đến . Cán bộ được phân công xuống các làng xã giúp dân di chuyển và bảo vệ tài sản , bảo vệ cơ sở cốt cán. vùng đồng bào Kinh ở phía đông Sông Ba đã thành lập Ban liên lạc gồm ba tiểu ban: Thông tin liên lạc; tiếp tế, tải thương; trừ gian và phát triển cơ sở. Tháng 8 và tháng 9-1946 huyện An Khê đã phát động và tổ chức một đợt tuyên truyền rộng rãi nhằm gây khí thế trong nhân dân . Các đội công tác và cơ sở cách mạng đã rải hàng ngàn truyền đơn, dán hàng ngàn áp phích trên tất cả ngả đường vào thị trấn và gần đồn địch . Cùng thời gian này, Trung đoàn chủ lực do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy đã phục kích, tiêu diệt một đơn vị Pháp lùng sục vào chiến khu ; trong đó có một quan ba và một quan hai của Pháp. Đây là trận đánh mở màn của cuộc kháng chiến ở An Khê . Thắng lợi của trận đánh đã củng cố thêm niềm tin vào cách mạng của quần chúng các địa phương Tây Nguyên . Khi cán bộ cách mạng trở lại hoạt động, bọn tề ngụy dao động và lo sợ, không dám có hành động chống lại . Do đó, đến cuối năm 1946, phần lớn các buôn làng ở Đất Bằng đã xây dựng được cơ sở vững vàng và phát huy ảnh hưởng sang các địa phương phía tây sông Ba và vùng ven thị trấn Cheo Reo . Ở phía tây đường 14, gần biên giới Camphuchia, đồng chí Ksor Thanh, Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Chư Ti tiếp tục nắm cơ sở, động viên giữ vững tinh thần nhân dân, móc nối liên lạc với các đồng chí ở các đội công tác , mở rộng cơ sở và địa bàn hoạt động . Cùng thời gian này, trong cả nước, thực dân Pháp càng ngày càng bộc lộ bản chất xâm lược. Trên chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, quân Pháp liên tục mở các hoạt động vũ trang khiêu khích, lấn chiếm, phá rối vùng tự do và tăng cường bình định củng cố vùng chiếm đóng. Đối phó với các thủ đoạn trên, quân dân Gia Lai có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực tổ chức phòng thủ chống địch lấn đất, liên tục quấy phá để địch phân tán lực lượng, phá thế uy hiếp của chúng ở vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi. Theo phương hướng của Chiến khu V, từ ngày 30-9-1946, quân chủ lực bắt đầu tằng cường hoạt động ở hướng An Khê, chủ động đề phòng địch tấn công, như sau Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Đêm ngày 6-10-1946, các Trung đoàn 94, 95, 67 có sự phối hợp của quân du kích huyện An Khê đồng loạt công kích các cứ điểm Kan Nak, Tú Thủy, Cửu An, Eo Gió, Gia Hội…. Nhân dân các buôn làng nổi dậy phá hoại cầu cống, cắt dây điện thoại, diệt tề trừ gian , trấn áp bọn phản động, củng cố lực lượng, mở rộng cơ sở. Quần chúng tham gia tải thương, tiếp tế lương thực, thực phẩm phục vụ chiến trường. Trong đó có nhiều tấm gương tiêu biểu, như bà Đặng Thị Phải vào tận đồn Cửu An đón thương binh về nhà nuôi dưỡng. Ngày 30-12-1946, tại cầu Suối Vối, Trung đoàn 95 phối hợp với dân quân du kích vùng ven thị trấn An Khê tiếp tục tổ chức phục kích địch, diệt 70 lính Âu – Phi, phá hủy hai xe quân sự và đánh sập cầu. Đây là chiến thắng lớn đầu tiên trên chiến trường Bắc Tây Nguyên. Được sự giúp đỡ của Phân ban quốc dân thiểu số Tây Nam Trung Bộ, hầu hết các làng vùng Gia Hội, Kannak, chính quyền cách mạng được tổ chức lại cùng với việc phát triển dân quân du kích. Được sự giúp đỡ của bộ đội chủ lực, du kích dân tộc Ba Na ở Gia Hội được huấn luyện phương pháp chế tạo bom mìn tự tạo bằng đầu đạn đại bác 105 và hình thức đánh bom mìn… Tại Kan Nak, tháng 10-1946, đại đội Đinh Drong được thành lập. Đồng chí Kpă Yao được bổ nhiệm làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Nhuận làm chính trị viên. Đến cuối năm 1947, đại đội phát triển được 114 chiến sĩ và tách thành ba đại đội. Đại đội Y Bin nam, hoạt động phía nam An Khê, đại đội Y Bin bắc hoạt động ở bắc An Khê. Đại đội Đinh Drong là đơn vị quân đội đầu tiên của người dân tộc thiểu số Gia Lai. Cùng với việc củng cố , mở rộng địa bàn hoạt động , các đội công tác đặc biệt, các tổ quân báo được đưa vào hoạt động trong lòng địch, bám vùng ven thị trấn, thị xã, đồn điền để nắm tình hình, móc nối cơ sở. Đầu năm 1947, Tỉnh ủy Gia Lai cử một đoàn công tác gồm đồng chí Trần Xi , Lê Văn Rui, Nguyễn Khoa xây dựng hành lang Kan Nak – Bơnâm lên Kon Mơha, Ngô Sơn, Tiên Sơn, Hà Bầu (đông bắc Pleiku)… để phát triển cơ sở ở vùng Thiên chúa giáo . Các cán bộ của ta đã tranh thủ cảm tình và được sự ủng hộ của một số linh mục ở các nhà thờ như linh mục Đỗ Hữu Toán ở nhà thờ Kon Mơ Ha, linh mục Nguyễn Đình Nghĩa ở nhà thờ Kon Mah, linh mục Châu (người dân tộc thiểu số) ở nhà thờ Kon Sơmluh, và cả “giáo sĩ thừa sai” người Pháp là P.Corompt (thường gọi theo tên Việt là cố Hiển). Trong các đồn điền Biển Hồ, Đak Đoa, Bàu Cạn đoàn công tác cũng móc nối được một số công nhân tốt, xây dựng thành cơ sở, đồng thời tranh thủ cảm tình một số cai, ký. Đoàn công tác đã vận động, giác ngộ nhờ đó cả giáo dân vùng Tiên Sơn, Hà Bầu đã ủng hộ bộ đội. Các linh mục như Cố Hiển (linh mục thừa sai Pháp), thông qua các con chiên của ông cũng đã bí mật tiếp tế cho bộ đội.    Mặc dù bị quân Pháp đàn áp dã man , nhưng ngay từ những ngày đầu bị chiếm đóng, với truyền thống đấu tranh chống xâm lăng, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, một lòng hướng về Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu : “ Hỡi cánh hoa Ê Pan soi mình bên bến nước Mày sáng nhất rừng, mày đẹp nhất buôn Nhưng bụng Bác Hồ còn đẹp hơn nhiều Bác Hồ dạy làm cơm no, áo ấm ” Niềm tin vững chắc và tình cảm thiêng liêng ấy cùng với tinh thần đại đoàn kết dân tộc , các dân tộc Tây Nguyên đã cống hiến hết sức mình vì mục tiêu độc lập – tự do , góp phần quan trọng và thắng lợi chung của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp vẻ vang, để lại trong lịch sử của dân tộc những tên đất, tên người như những chiến công chói lọi nhất –những chiến công đã trở thành huyền thoại: N’Trang Lơng, Làng kháng chiến Stơr – Anh Hùng Núp .                                                          

 * Ở vùng đồng bào Chăm , cơ sở cách mạng vẫn phát triển , nhất là ở các địa phương Phú Nhuận, Hiếu Lễ, Phước Đồng, Chất Thường, Như Bình, Hoài Trung, Hậu Sanh, Hữu Đức (huyện Ninh Phước - Ninh Thuận). Nhiều người Chăm vẫn bí mật hoạt động trong lòng địch và che giấu , nuôi dưỡng các cán bộ , đảng viên Cộng sản, những người yêu nước hoạt động cách mạng như đồng chí Trương Phúc Khánh (Phước Đồng - Phước Hậu - Ninh Phước), đồng chí Phú Như Lập (Hiếu Lễ - Phước Hậu - Ninh Phước) cùng với nhiều đồng chí khác ở các địa phương trong vùng đồng bào Chăm. Đến năm 1935, cơ sở cách mạng được xây dựng và phát triển rộng khắp ở các vùng đồng bào Chăm. Nhiều người Chăm đã tham gia hoạt động du kích , tiêu diệt những tên lính Pháp và bọn tay sai , ác ôn như các lý trưởng, cường hào, ác bá . Những năm 1938-1939, dưới sự lãnh đạo của Xăm Brăm , phong trào chống đi phu đã lan rộng khắp các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên và lên cả Tây Nguyên. Dưới hình thức rước “Nước thần”, đồng bào người Chăm đã tiêu diệt hàng chục đồn Pháp. Hoảng sợ trước sức mạnh của phong trào người Chăm , địch huy động bốn tiểu đoàn càn quét trong sáu tháng , nhưng nghĩa quân người Chăm đã chiến đấu anh dũng , tiêu diệt hơn 200 tên địch. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp thua trận, Nhật nhảy vào Đông Dương. Đồng bào Chăm cũng như đồng bào các dân tộc anh em ở Ninh Thuận và cả nước phải chịu nhiều tầng áp bức bóc lột là thực dân Pháp , phát xít Nhật và sự áp bức bóc lột của bọn tay sai . Cuộc sống của đồng bào Chăm cũng như đồng bào các dân tộc anh em khác vô cùng cực khổ , điêu đứng . Điều đó đã làm bùng cháy thêm ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc. Đồng bào Chăm đã tự nguyện tham gia Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương và sau đó gia nhập Việt Minh . Năm 1944, các địa phương ở vùng đồng bào Chăm như Hoài Trung, Như Bình, Hữu Đức, Hậu Sanh, Phước Lập, Vụ Bổn, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ (Ninh Phước) đã hình thành các cơ sở cách mạng có mối liên hệ mật thiết với nhau ; đồng bào tích cực vận động quyên góp của cải ủng hộ cách mạng , điển hình như mẹ Nguyễn thị Thềm đã ủng hộ hàng chục cây vàng . Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, Đại đội Chế Bồng Nga , chủ yếu là những người con ưu tú của đồng bào Chăm , hoạt động ở vùng Bình Thuận , đã tiêu diệt nhiều đồn địch, uy danh một thời, từng làm khiếp đảm quân xâm lược và tay sai . Đầu năm 1945, nhiều làng Chăm như Phú Nhuận, Phước Đồng, Hiếu Lễ... đã nằm trong vùng kiểm soát của Việt Minh . Những hoạt động tích cực đó đã chuẩn bị mọi mặt để đồng bào Chăm cùng với các dân tộc anh em tiến tới tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch. Phong trào yêu nước và hoạt động cách mạng vùng dân tộc thiểu số đã góp phần quyết định làm nên cuộc cách mạng tháng 8-1945 thành công trên phạm vi cả nước. Cách mạng tháng 8 có ý nghĩa lớn lao đối với đồng bào các dân tộc thiểu số . Đó thực sự không chỉ là việc phá tan xích xiềng nô lệ thực dân , phong kiến mà còn mở ra kỷ nguyên bình đẳng dân tộc , xóa bỏ sự miệt thị , tự ti , kỳ thị dân tộc để đồng bào các dân tộc dân tộc đoàn kết , làm chủ đất nước . Chính quyền Cách mạng về tay nhân dân , nhưng khó khăn thiếu thốn, gieo neo vẫn đè nặng trên vai. Theo lời dạy của Hồ chủ tịch, đồng bào các dân tộc lại đoàn kết một lòng , kiên trung chống giặc đói, giặc dốt, đối phó với thù trong giặc ngoài . Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã tham gia xây dựng nhiều căn cứ địa kháng chiến tiêu biểu là khu căn cứ Pú Nhung (Sơn La), Cao Phạ (Yên Bái), khu 99 (Sơn La) nằm sâu trong vùng núi non hiểm trở. Nhờ có hệ thống liên hoàn có căn cứ kháng chiến ở Tây Bắc nên đã huy động được đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số tham gia. Việc đóng góp công sức xây dựng khu căn cứ, cung cấp lương thực cho tiền tuyến, đi dân công tiếp tế chiến trường, tòng quân vào bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, tham gia vào các đội du kích giết giặc trừ gian đã làm cho kháng chiến ở vùng Tây Bắc đạt tới mức độ toàn dân, toàn diện, huy động tổng lực. Trong chiến dịch Thu Đông 1947-1948, du kích vùng dân tộc thiểu số ở Hòa Bình đã đánh 137 trận lớn nhỏ, tiêu giệt 139 tên địch, làm bị thương 152 tên, bắt sống nhiều binh lính địch. Đội du kích người Mông trong khu căn cứ Cao Phạ (Yên Bái) do Lý Nụ Chu chỉ huy đã làm chủ tuyến đường kháng chiến Nghĩa Lộ, Mù Căng Chải, Than Uyên, uy hiếp chia cắt địch khi chúng vào sâu trong vùng. Bị bao vây, bị bắt nhưng du kích người Mông Cao Phạ vẫn tự giải thoát, cướp vũ khí giặc giải cứu đồng bào bị địch kìm kẹp, bắt bớ ở vùng Nghĩa Lộ. Đội du kích Pú Nhung (Điện Biên) chủ yếu là người Mông đã chiến đấu ngoan cường khắp vùng Tuần Giáo. Tiêu biểu là những tấm gương như anh hùng Sùng Phái Sinh, đội trưởng đội du kích Giàng A Páo, đặc biệt tấm gương hy sinh bất khuất, kiên cường của liệt sĩ thiếu niên dân tộc Mông Vừ A Dính, lão du kích liệt sĩ Vàng Lao Tả. Đội du kích người Dao xã Toàn Sơn , Đà Bắc (Hòa Bình) đã làm thất điên bát đảo quân Pháp ở vùng sông Đà. Đội trưởng Triệu Phúc Lịch đã quần nhau với địch, cướp súng địch, giết địch và hy sinh anh dũng trở thành tấm gương sáng của thanh niên dân tộc Dao thời đánh Pháp ở Hòa Bình. Trong lực lượng vũ trang, bộ đội chủ lực nổi lên tấm gương Lò Văn Bương (dân tộc Thái), Đinh Văn Mẩu (dân tộc Mường) là những cán bộ chỉ huy tài năng trong đánh giặc, được đồng đội và nhân dân tin cậy. Với mưu đồ chia rẽ các dân tộc, chia để trị, thực dân Pháp lợi dụng bọn phản động, tay sai lập ra xứ Mường, xứ Thái tự trị theo chiêu bài giả hiệu. Chúng xây dựng những đội quân riêng người Thái, riêng người Mường, đầu độc họ bằng ý thức dân tộc hẹp hòi, biến họ thành công cụ chống cách mạng, chống các dân tộc anh em, gây hận thù, nhen nhóm ngọn lửa chiến tranh giữa các dân tộc trong vùng Tây Bắc để chúng dễ bề lợi dụng, khống chế, đàn áp. Thực dân Pháp và bè lũ tay sai cùng bọn phản động ở Tây Bắc xuyên tạc đường lối kháng chiến kiến quốc của ta, dùng chiêu bài xây dựng xứ rừng xanh tự trị là thành viên của Liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp - Việt. Nhận rõ dã tâm thâm độc của giặc, đồng bào Tây Bắc đã kiên quyết một lòng một dạ đi theo con đường của Đảng, Bác Hồ, chống lại âm mưu thành lập xứ Mường, xứ Thái, chia rẽ đoàn kết dân tộc của giặc. Trước áp lực của kháng chiến, trước sức mạnh đoàn kết của đồng bào ta, các khu tự trị giả hiệu thâm độc đã từng bước tan rã cùng với những tổn thất của giặc trên chiến trường Tây Bắc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc , Đông Bắc và Bắc Trung Bộ đã cung cấp một phần ba số lượng lương thực, một phần hai tổng số thực phẩm, một phần bảy tổng số lực lượng dân công được huy động để phục vụ chiến dịch; đồng bào đã tự giác huy động hàng ngàn con ngựa thồ, xe đạp, thuyền…, tất cả mọi phương tiện có thể có được để phục vụ chiến trường. Nhiều việc làm cao quý bắt nguồn từ lòng yêu nước thiết tha, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, Lai Châu… đã tự nguyện cung cấp gạo và rau cho bộ đội; đồng bào còn chủ động sử dụng trên 5750 dân công để mở đường số 13, đường số 6, dẫn đường cho bộ đội cắt rừng, kéo pháo vào Điện Biên Phủ. Thắng lợi của các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc và đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử không những giải phóng hoàn toàn miền Tây Bắc mà còn giải phóng một nửa đất nước, là lời cáo chung cho chủ nghĩa thực dân kiểu cũ ở vùng Đông Nam á và trên toàn thế giới. Đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc có vinh dự góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt 80 năm xâm lược, đô hộ của thực dân Pháp, làm nên sự kiện vang dội năm châu chấn động địa cầu, đưa vị trí của Việt Nam lên tầm cao mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ hòa bình thế giới.

III – Giai đoạn 1954-1975. Từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đến đại thắng Mùa xuân năm 1975, Đảng bộ các tỉnh và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên bước vào thời kỳ đấu tranh đầy khó khăn, phức tạp đương đầu với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Phát huy truyền thống đấu tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ các tỉnh đã kịp thời chuyển hướng tư tưởng, tổ chức lãnh đạo đấu tranh, giữ gìn và phát triển lực lượng, củng cố và xây dựng cơ sở, nhất là vùng nông thôn đồng bào dân tộc, đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tiến tới phát động phong trào đồng khởi, chú trọng lãnh đạo xây dựng khu căn cứ địa làm bàn đạp đứng chân để củng cố lực lượng, phát triển kinh tế, văn hóa , lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương .Coi trọng củng cố lực lượng quần chúng lao động, mở rộng mặt trận đoàn kết các tầng lớp, giai cấp, đoàn kết toàn dân vào mặt trận đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai . Cuối tháng 8-1954, việc bố trí cán bộ ở lại và chuyển cán bộ, bộ đội đi tập kết ở các tỉnh Tây Nguyên đã căn bản được triển khai đúng quy định của Hiệp định Giơ – ne – vơ . Nhiệm vụ quan trọng đặc biệt của các tỉnh Tây Nguyên từ cuối năm 1954 đến đầu năm 1955 là sắp xếp cán bộ, chuẩn bị tư tưởng, tổ chức, chuyển hướng phương châm, phương thức cho cán bộ được bố trí ở lại hoạt động. Tỉnh Kon Tum bố trí 128 cán bộ ở lại; Gia Lai bố trí 134 cán bộ ở lại; Đăk Lăk bố trí khoảng 120 cán bộ ở lại. Đầu năm 1955, Liên khu ủy V thành lập 4 Liên tỉnh để thuận lợi hơn trong việc chỉ đạo. Các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk thuộc Liên tỉnh IV; Lâm Viên, Đồng Nai Thượng ( nay là Lâm Đồng) thuộc Liên tỉnh III. Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những đảng viên người Kinh được bố trí ở lại đã cà xăng, xỏ lổ tai, đóng khố… hóa trang thành người dân tộc bản địa, tìm cách liên lạc với cơ sở, tích cực nắm dân, xây dựng cơ sở mới, đem ánh sáng cách mạng đến với đồng bào, lãnh đạo phong trào địa phương. Nhờ đó mà Đảng ta đã lãnh đạo sâu sát các cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước đã diễn ra trên khắp Tây Nguyên từ ngày cuối năm 1954, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Ở Kon Tum, Pleiku, An Khê, Buôn Ma Thuột, đảng bộ các địa phương đã tổ chức cho hàng vạn lượt người kéo vào thị xã, thị trấn, tỉnh lỵ đấu tranh. Từ năm 1957 – 1962, đồng bào các tỉnh Tây Nguyên tham gia tích cực vào đấu tranh chống Mỹ - Diệm cướp đất lập dinh điền. Ở Gia Lai, khi địch xua quân cho máy ủi, máy xúc san lấp ruộng rẫy của dân, đồng bào Gia Rai ở các làng quanh dinh điền Ninh Đức (4 huyện) Như làng Kênh Ngó, Kênh Chơp, Mơrông Ngó, Mơrông Yố... đã kiên quyết đấu tranh. Chị Rơmăh Chăm dũng cảm dẫn đầu một số chị em bồng bế con nằm chặn ngang đầu xe địch, chúng xúc cả đất và người đổ ra bãi, đồng bào xông lên dùng dao, rựa, gậy gộc đánh lại dân vệ, bảo an, lôi lái máy quẳng xuống đất... Những cuộc đấu tranh quyết liệt bằng cả hành động và lý lẽ diễn ra tại các dinh điền như Lệ Kim, Lệ Ngọc, Đức Nghiệp, Lệ Phong... buộc kẻ thù phải chùn tay. Thời kỳ cao điểm, giữa năm 1959, chỉ riêng 4 huyện và huyện 5 tỉnh Gia Lai đã có 143 làng quanh 20 dinh điền đấu tranh, tập hợp hơn 40 ngàn đồng bào, kể cả chủ làng, tề tổng và gia đình binh sĩ ngụy tham gia. Ở tỉnh Đăk Lắk, hàng trăm chị em ở Buôn Hồ, Phước An, quanh Buôn Ma Thuột cũng kéo ra nằm ngăn cản xe địch, kiên quyết không cho cày, ủi đất, buộc chúng phải nhượng bộ, chỉ khai thác vùng còn hoang hóa, trả lại những nương rẫy đã chiếm của dân. Phối hợp với phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào người Kinh từ các tỉnh đồng bằng vừa bị địch xúc lên các dinh điền cũng kiên quyết đấu tranh đòi trở về quê cũ. Tháng 5-1959, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời, xác định “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực”. Nhưng ở Tây Nguyên, từ tháng 4-1959, chị Y Ngã ở làng Tà Book (huyện 40, Kon Tum) đã lập mưu chuốc địch uống rượu rồi xông vào ôm chặt tên trung úy địch cho chồng chém đầu, diệt gọn tốp địch 4 tên, thu 3 súng rồi cùng dân làng rút vào rừng sống “ bất hợp pháp” với địch. Nghị quyết 15 đã đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình cách mạng miền Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng. Các tỉnh chỉ đạo đào các hầm vũ khí được cất giấu để trang bị cho lực lượng vũ trang. Tháng 9-1959, tỉnh Gia Lai thành lập 3 trung đội vũ trang tập trung. Tháng 10-1954, tỉnh Kon Tum thành lập đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh với 64 cán bộ, chiến sĩ. Tỉnh ủy Đak Lắk xây dựng được 3 tiểu đội đặc công 9 đồng chí và 1 trung đội chủ lực của tỉnh. Trong các làng, xã, nhất là trong vùng căn cứ, đều thành lập lực lượng dân quân, du kích. Tháng 3-1960 một cuộc đấu tranh lớn chống địch chiếm đất lập dinh điền diễn ra tai lang Jrăng, xã B13 (huyện 4, Gia Lai). Gần 10.000 lượt đồng bào Gia Rai ở các xã B 11, 12, 13 đã tập trung đấu tranh liên tục trong 3 ngày không cho địch ủi đất. Vừa đấu tranh với kẻ thù, đồng bào ta vừa tích cực làm công tác binh vận kêu gọi tình cảm dân tộc, quê hương, ngăn chặn lính đàn áp dân làng. Khi tên quận trưởng bắt chủ làng Uynh, bị Bleh – vợ chủ làng là cơ sở của ta – đã xông đến cầm dao chém tên quận trưởng làm cho hắn phải bỏ chạy, binh lính làm ngơ cho chị đuổi theo. Đến ngày thứ 4 thì cuộc đấu tranh giành thắng lợi, địch buộc phải rút. Ở tỉnh Kon Tum, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, ngày 20-10-1960 quân và dân trong tỉnh đã đồng loạt tiến công và nổi dậy tiêu diệt các đồn Đăk Rú, Đăk Glêi, Đăk Bung, Đăk Tả bắt 300 tên, thu 50 súng. Ngọn lửa đồng khởi từ Kon Tum đã lan nhanh sang các tỉnh Tây Nguyên: Ngày 23-10-1960, phá đồn Kan Nak, đánh chiếm đồn Plei Lốk, Ea Nu, Ea Thu , hỗ trợ nhân dân vùng đông bắc Bôn Ma Thuột nổi dậy giành quyền làm chủ . Phong trào đồng khởi các tỉnh Tây Nguyên đã mở rộng thêm vùng giải phóng, thu hẹp vùng đóng chiếm của Mỹ - Diệm. Cuối năm 1960, tỉnh Gia Lai có 508 làng, gần 150.000 dân thuộc vùng giải phóng, hành lang chiến lược và đường giao liên của Trung ương từ bắc vào nam qua địa bàn các tỉnh Tây Nguyên như Kon Tum, Gia Lai, Dăk Lăk... đã được khai thông và củng cố, cùng nhiều đường nhánh rẽ xuống các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... đã hình thành. Một vùng thuộc bắc Tây Nguyên và miền núi các tỉnh Nam Trung bộ đã được xây dựng thành căn cứ địa vững chắc của Liên khu V trong kháng chiến chống Mỹ. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên còn có vai trò tích cực trong việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, văn nghệ, dùng thuốc nam chữa bệnh trong vùng căn cứ; vận động thanh niên tham gia cách mạng; Tổ chức cơ sở, vận động nhân viên hành chính và binh lính Ngụy tham gia đấu tranh chống địch ở thị xã, thị trấn và các đồn điền. Hè – thu năm 1961, dân làng Kẹp , xã B2, huyện 4, Gia Lai , đấu tranh không chịu vào ấp chiến lược với lý lẽ “ Người dân thuộc đời xưa đến giờ chỉ biêt sống tự do, đi lại tự do. Vào ấp chiến lược là bị chính phủ nhốt”. Mùa thu năm 1962. Hội phụ nữ cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận vận động nhân dân làng Trung Lương , thị xã Kon Tum , lập bàn thờ Phật ngoài sân để phản đối chính quyền Mỹ - Diệm bắt người đi thủ tiêu, đồng thời đấu tranh mạnh mẽ đòi tự do tín ngưỡng. Ở Kon Dờng , huyện 3, Gia Lai , khi địch mang xe ủi đến cào nhà, phá hoa màu… để dồn dân, đồng bào các làng đã ôm chặt các cột nhà, buộc địch phải nhượng bộ. Cách đấu tranh này đã lan rộng ra các huyện thuộc tỉnh Gia Lai, nhất là huyện 5. Một trong những hoạt động dũng cảm của phong trào cách mạng Tây Nguyên năm 1962 -1963 là đồng bào tham gia quyết liệt phá ấp chiến lược. Điển hình là cuộc phá ấp đồn Tel , làng Bak, huyện 5, Gia Lai , tháng 11-1962. Theo kế hoạch, được bộ đội và du kích hỗ trợ, cơ sở nòng cốt ở làng là chị H’bình, Bloih, H’yoih và chị Phia đã bí mật người già và trẻ em ra ngoài trước, sau đó lực lượng du kích đốt nhà trong ấp để bà con lợi dụng lúc địch hoảng loạn, bỏ chạy về làng cũ. Ngày hôm sau, tên quận phó Lệ Thanh dẫn một trung đội lính đến bao vây làng Bak, bắt dân ra xếp hàng cho chúng tra hỏi. Không khai thác được gì, tên quận phó cho lính đánh dân, chị Siu Nép đã dẫn đầu chị em lăn xả vào ôm lính, ngăn cản hành động tàn bạo của chúng. Địch điên cuồng xả sung vào đám đông, giết chết 162 người, trong đó có 98 phụ nữ. Không chùn bước trước cuộc thảm sát dã nan của địch, huyện 5 chỉ đạo dân làng Bak tập hợp những người còn sống sót, chia thành 2 đoàn kéo lên tỉnh đấu tranh. Chị Noah dẫn đầu 1 đoàn lên gặp tên Beo, phó tỉnh trưởng Pleiku vạch tội ác của giặc và đưa yêu sách buộc địch phải cho người xuống làng cứu chữa cho dân, không được tiếp tục dồn dân vào ấp. Chỉ riêng tỉnh Gia Lai, năm 1962 đã có 463 cuộc đấu tranh chính trị, binh vận với địch. Ở Dăk Lăk, khi địch càn , cơ sở ta vận động và tổ chức cho nhân dân ta phân tán, cất giấu tài sản . Đồng bào ở các buôn Ea M’Droh, buôn Chur (B6); buôn Tung, Adrơng, Ayun, Wing (B3), Đak Bri, Yốk Yu, Jrăh (Đức Lập)…đã kiên quyết chạy ra rừng ở, không để bị địch dồn vào ấp. Từ cuối năm 1963, chiến tranh du kích ở Tây Nguyên phát triển mạnh, phụ nữ Tây Nguyên cũng đã tích cực tham gia lực lượng du kích, nhiều chị đã lập thành tích xuất sắc trên mặt trận tiêu diệt xe cơ giới địch. Phong trào đấu tranh ở đô thị, các đồn điền cũng được đẩy mạnh. Hội phụ nữ đã lãnh đạo chị em đấu tranh trên mặt trận binh vận, khai thông các cửa khẩu để mua hàng nhu yếu phẩm từ vùng địch , phục vụ kháng chiến , đẩy mạnh tăng gia sản xuất và chiến đâu để bảo vệ căn cứ. Trong thời kỳ Chiến tranh Cục bộ, nhiều hình thức đấu tranh phong phú đã được sáng tạo, vận dụng. Dân làng Ring De , Pleiku, Gia Lai , bày rượu trong các gia đình, giả cúng yang, cắm lá thông báo kiêng cữ theo phong tục ở cổng làng và canh gác hợp pháp, không cho địch vào để bảo vệ cuộc họp chi bộ đang diễn ra ngay giữa ban ngày. Trong chiến dịch Plei Me, khi giặc Mỹ cho xe tăng kéo pháo và dàn trận trong rẫy lúa của dân, dưới sự chỉ huy của các chị Rahlan H’Bình, Kpă Tha , cán bộ Phụ nữ huyện 5 , chị Puih H’Ba , cán bộ dân vận huyện 5, cùng hơn 300 đồng bào Gia Rai đã kéo đến đấu tranh trực diện với quân Mỹ. Hàng chục chị em đã xông vào bịt nòng pháo, lăn ra cản trước xe tăng, nhổ cây lúa rồi chỉ vào miệng, ra hiệu cho lính Mỹ đây là loại cây nuôi sống dân làng, họ không được phá. Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của đồng bào, quân Mỹ đã buộc phải rút khỏi 70 rẫy lúa. Ở tỉnh Kon Tum, từ ngày 25 đến ngày 29 -3 -1966, hơn 4.000 học sinh, cùng hàng ngàn quần chúng và tín đồ Phật tử xuống đường đấu tranh chống Mỹ - Thiệu. Ở tỉnh Dăk Lăk, từ tháng 6-1966 đến cuối năm 1967 có 500 cuộc đấu tranh trực diện. Nổi bật là cuộc đấu tranh tháng 3-1967 thu hút trên 12.000 người , trong đó, lực lượng phụ nữ chiếm số lượng đông đảo , đã kéo vào các quân tỉnh lỵ đấu tranh chống bắt lính, chống bắn pháo, chống rải chất độc hóa học... lôi kéo gần 400 binh lính và người nhà của họ tham gia. Trong những năm chống chiến tranh Cục bộ, trên chiến trường Tây Nguyên, quân ta đã mở nhiều chiến dịch lớn đánh vào sào huyệt của kẻ thù, đồng bào các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và tổ chức quần chúng đã tích cực làm nhiệm vụ giao liên, phục vụ chiến trường trong chiến dịch Sa Thầy, Đăk Tô , Kon Tum , chiến dịch Plei Me , Gia Lai , đã huy động hàng chục ngàn nhân công đi gùi gạo, vận chuyển vũ khí, lương thực. Có người mẹ Gia Rai là Hnghel , tức Amí Típ , trong một lần dẫn đường cho bộ đội vào vị trí ém quân ; Khi đi qua đồn địch, đứa con nhỏ chị đang địu trên lưng bật khóc, sợ lộ bí mật, chị đã phải bịt miệng con, lúc bộ đội vào vị trí tập kết thì đứa con nhỏ thân yêu của chị đã tắt thở. Lý giải về hành động này, chị nói thật mộc mạc, chân thành “ Con tôi khóc, nếu vì con mà tôi để bộ đội chết là tôi có tội với nước”. Sau chiến dịch, các xã Ia Me, Ia Bòng... đã nhận nuôi hàng chục chiến sĩ do bị thương, lạc đường... cho đến khi các anh đủ sức khỏe tìm về đơn vị. Từ khi quân Mỹ ồ ạt đổ vào Tây Nguyên, lực lượng du kích của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng tăng lên nhanh chóng . Ở tỉnh Gia Lai, trong 6 tháng đầu năm 1967, lực lượng nữ du kích đã lên tới 1.225 người. Nhiều chị giữ vai trò chỉ huy ở cấp trung đội, xã đội. Nhiều chị trực tiếp tham gia vào chiến đấu đạt các danh hiệu: “ Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú”; “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”... Tham gia chống Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1972), dưới sự lãnh đạo của các Tỉnh ủy quần chúng các dân tộc đã khắc phục khó khăn, gian khổ, tham gia đấu tranh trực diện tại chổ, kết hợp “ Ba mũi giáp công”, sẵn sáng tiến công địch đảm bảo thắng lợi trong mọi tình huống. Trong cuộc đấu tranh chống bình định , giành dân diễn ra dai dẳng và quyết liệt, ta chủ động bố trí một số nòng cốt, đảng viên hợp pháp đi theo dân để giữ đầu mối liên lạc như: chị Nguyễn Thị Đợi , huyện 5 , vợ chồng anh Prang , y tá Phiar vào làm việc cho binh lính canh giữ khu đồn Chư Nghé(Gia Lai) vận động các khu đồn nổi dậy như khu đồn Chư Nghé (Gia Lai) năm 1970, đồng thời huy động dân ở 42 làng phía tây Pleiku nổi lên phá thế kìm kẹp của địch , với lực lượng gần 7.000 dân . Hưởng ứng phong trào Chư Nghé, trong chiến dịch B81 ,Xuân – hè 1971, các tỉnh Tây Nguyên đã phối hợp với Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên (B3) vừa tổ chức tấn công tiêu diệt địch, vừa phát động quần chúng nổi dậy phá rã từng mảnh ấp chiến lược ở Phú Nhơn, nam huyện 7, Gia Lai , H4, H5 ở Đăk Lắk . Trong những cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, nhiều đồng bào ở Gia Rai ở H2 và H3 , Đăk Lắk , đã anh dũng chặn xe tăng địch không cho ủi phá nhà cửa, nương rẫy. Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều người con ưu tú của các dân tộc Tây Nguyên đã thể hiện cao đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng, làm rạng rỡ truyền thống yêu nước của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; đó là các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Pi Năng Tắc, Pi Năng Thạnh người Raglai; R’Chăm Ớt, Kpui Thu người Gia Rai; Vai, Nun, nữ anh hùng Kan Lịch người Tà Ôi (Pa Kô); Tia, Xâu người H’Rê; Wừu người Ba Na. Nhiều em thiếu niên Tây Nguyên lập được nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc: em Kơ Ha Klơng 17 tuổi ở Gia Lai đã đánh diệt được 100 tên địch, em Kêch 14 tuổi ở Gia Lai bằng súng trường đã bắn cháy một máy bay địch; hai em bé ở Đăk Lăk đã giúp du kích bắt sống sĩ quan địch khai thác được nhiều tài liệu quan trọng. Cảm động biết bao những năm tháng chiến tranh gian khổ bộ đội ta thiếu lương thực, đồng bào ta ở Tây Nguyên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Bình Định… đã vận động nhân dân bí mật xay thóc, vận chuyển hàng chục ngàn tấn gạo cho bộ đội; nhiều làng bà con còn vận động nhau hàng tháng ăn sắn để nhường gạo cho chiến sĩ. Qua thực tế đấu tranh, được sự giúp đỡ rất tận tình của cán bộ, bộ đội người Kinh và cán bộ các dân tộc đến từ mọi miền đất nước, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Nguyên nhanh chóng trưởng thành, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo đồng bào Tây Nguyên chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược . Một vinh dự to lớn của nhân dân các dân tộc Tây nguyên là Buôn Ma Thuột được chọn làm điểm đột phá khẩu , mở đầu chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử , góp phần cùng cả nước làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất nước nhà , sau 30 năm chiến tranh giải phóng , để bước vào giai đoạn lịch sử mới, cùng cả nước xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.

* Ở vùng đồng bào Chăm , Khi chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm quyết đàn áp , bắt người Chăm bỏ phong tục tập quán cha ông, buộc các tầng lớp giáo sĩ làm theo một số quy định khắc nghiệt, nhân dân Chăm đã dũng cảm nổi lên chống lại chính sách hà khắc , phản dân tộc đó. Thực hiện chính sách “chia để trị”, Mỹ ngụy đã lập ra ở vùng người Chăm “Hiệp hội Chăm Hồi giáo Việt Nam” nhằm gây chia rẽ người Kinh và người Chăm, chia rẽ người Chăm theo đạo Bà Ni và người Chăm theo đạo Hồi. Vụ xung đột đổ máu giữa những người Chăm vào năm 1971 ở Ninh Thuận là minh chứng cho chính sách độc ác của Mỹ ngụy. Nhưng chính sách “chia để trị” của Mỹ ngụy càng làm cho đồng bào Chăm thấy rõ hơn chính sách đúng đắn của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, từ đó đồng bào hưởng ứng, ủng hộ cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc đã có nhiều đóng góp to lớn. Đồng bào cử nhiều con em tham gia chiến đấu ở các chiến trường ,nhiều người con thân yêu đã hy sinh anh dũng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả ; đồng bào các dân tộc phía bắc trực tiếp đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ leo thang ra miền Bắc. Tiêu biểu là thanh niên dân quân Mường Lạc Sơn , Hòa Bình, phụ nữ du kích Thái Yên Châu đã bắn rơi máy bay siêu âm hiện đại của Mỹ bằng súng trường bộ binh. Đồng bào các dân tộc đã ngày đêm bảo vệ các con đường giao thông huyết mạch, chi viện sức người sức của cho các chiến trường miền Nam, miền Tây. Đồng bào các dân tộc ở các tỉnh phía Bắc cũng đã xóa bỏ tận gốc rễ giai cấp bóc lột và những ảnh hưởng xấu do sự thống trị của thực dân phong kiến áp bức, bóc lột để lại , để đoàn kết xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa miền núi. Sự đổi thay cơ bản này làm nền tảng cho việc nâng cao dân trí, giác ngộ chính trị xã hội, nâng cao tiềm lực của hậu phương lớn , đáp ứng yêu cầu của các chiến trường trong những năm 1955-1975. Sau Hiệp định Genève 1954 đế quốc Mỹ thay thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Địa bàn cư trú của đồng bào Khmer phần lớn nằm ở vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế... Đế quốc Mỹ luôn thực hiện âm mưu chống phá cách mạng, chia rẽ dân tộc. Phong trào đấu tranh cách mạng của đồng bào và sư sãi Khmer dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Mặt trận các cấp trong thời kỳ đấu tranh chống đế quốc Mỹ phát triển theo diễn tiến chung của cách mạng miền Nam. Lúc này, cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, thực hiện Hiệp định Genève, củng cố hòa bình để tiến tới thống nhất đất nước. Đảng chủ trương đưa một số cán bộ, bộ đội, học sinh tập kết ra miền Bắc học tập để chuẩn bị lực lượng sau này. Đồng thời sắp xếp cán bộ ở lại để bảo tồn lực lượng, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng dân tộc. Đế quốc Mỹ giao quyền cho chính quyền Sài Gòn quyết định mọi chủ trương liên quan đến các dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Khmer Nam Bộ. Từ năm 1954 đến 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương thực hiện chính sách cưỡng bức, đồng hóa đối với đồng bào Khmer, gọi “người Việt gốc Miên” thông qua Sắc lệnh ngăn cản học chữ Phạn; hạn chế hoạt động của đạo Phật, quy định về ăn mặc, đặc biệt chúng tiến hành tàn sát nhiều làng xóm, gia đình người Khmer theo Luật 10/59... Trước chính sách tàn bạo và bất công đó, đồng bào Khmer ở nhiều địa phương trong vùng đã nổi dậy đấu tranh bảo vệ quyền dân sinh, tự do tín ngưỡng của mình. Vùng Khmer ở Trà Cú , tỉnh Trà Vinh , Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu , tỉnh Sóc Trăng , U Minh, Vĩnh Lợi, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời , tỉnh Cà Mau ... trở thành căn cứ thời kháng chiến chống Pháp... Lực lượng cách mạng trong vùng dân tộc Khmer từng bước phát triển, cơ sở cách mạng ngày càng mở rộng. Việc học chữ dân tộc, việc tu hành của các vị sư, các phong tục tập quán của dân tộc được chính quyền cách mạng các cấp tôn trọng. Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời, đánh dấu một cao trào cách mạng mới. Dưới ngọn cờ chính nghĩa, đoàn kết chiến đấu của Mặt trận, lực lượng cách mạng trong vùng dân tộc Khmer phát triển nhanh chóng và đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc .Tháng 5-1962, theo tinh thần Nghị quyết của Trung ương Cục, phong trào phá ấp chiến lược đã vận dụng sức mạnh tổng hợp của ba mũi : lực lượng quân sự đánh diệt đồn bốt , bên trong đồng bào nổi lên phá rào và binh vận làm quân địch rã rời tinh thần , lực lượng vũ trang cùng quần chúng xây dựng ấp chiến đấu để chống trả sự tái chiếm của địch . Cuối năm 1963, nhiều đồn bốt của địch trong vùng dân tộc ở Nam Bộ bị chiến sĩ, đồng bào Khmer san bằng . Mỹ và chính quyền tay sai không ngừng sử dụng chính sách mua chuộc và răn đe đối với đồng bào Khmer . Nếu trước đây Ngô Đình Diệm đưa ra chiêu bài “dân tộc hóa” để đồng hóa đồng bào Khmer, thì nay Nguyễn Văn Thiệu cũng sử dụng chiêu bài “dân tộc hòa đồng đồng tiến ”; thực chất chỉ là hành động cố tình không công nhận đồng bào Khmer là dân tộc thiểu số . Ngoài ra, chúng thực hiện chương trình hiện đại hóa tôn giáo nhằm sử dụng sư sãi Khmer chống lại cách mạng...Chúng tiếp tục kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi để gây chia rẽ dân tộc; cho khôi phục lại các nhóm “Khmer Srei”, “đảng khăn trắng”,; củng cố Tổng Nha Đặc trách phát triển đồng bào Việt gốc Miên và hình thành Ty Miên Vụ ở khắp các tỉnh Tây Nam Bộ .Về kinh tế, chúng thay đổi chính sách cai trị để lấy lòng dân, bỏ bớt một số thuế; ban hành luật người cày có ruộng... Về văn hóa thông tin, chúng cho phát chương trình tiếng Khmer tại đài phát thanh Ba Xuyên và đài truyền hình Cần Thơ. Ra tờ báo Khmer “Chi va phép thmây”...Về giáo dục, chúng mở trường dạy tiếng Khmer, xây dựng ký túc xá, cấp học bổng cho học sinh từ cấp II trở lên. Xét ưu tiên điểm thi tuyển và hàng năm tuyển thẳng một số học sinh vào các trường đại học... Xét ưu tiên thấp hơn một cấp so với người Việt để tuyển thanh niên Khmer vào các trường sĩ quan Thủ Đức và Đà Lạt... Đồng thời với các chính sách mị dân đó, chúng tiến hành càn quét, bắn phá vùng căn cứ cách mạng; truy tìm, bắt bớ những người tình nghi là có liên quan đến lực lượng cách mạng.Nhiều cơ sở cách mạng, nhiều gia đình có người thân tham gia kháng chiến liên tục bị bắt bớ, giam cầm ở nhiều nhà tù . Trước những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã kiên trì thực hiện đúng đắn chính sách đoàn kết các dân tộc , nên đã tạo ra được phong trào đấu tranh chính trị sâu rộng, thu hút nhiều sư sãi Khmer tham gia kháng chiến . Nhiều cán bộ Khmer đã tham gia vào các tổ chức cách mạng như Ban Khmer vận khu Tây Nam Bộ, ban Khmer vận các tỉnh, huyện… và phát triển cơ sở cách mạng trong giới sư sãi . Ban Khmer vận ngoài nhiệm vụ củng cố và phát triển trong vùng dân tộc Khmer còn có trách nhiệm vận động sư sãi tham gia các hoạt động yêu nước. Tháng 6 năm 1961, Ban Khmer vận khu Tây Nam Bộ đã tiến hành Đại hội thành lập Mặt trận Khu Tây Nam Bộ. Liên Tỉnh ủy họp bàn có quyết định thành lập Ban Khmer vận Khu Tây Nam Bộ , gồm các đồng chí Thạch Sên, nguyên Thường vụ tỉnh ủy Sóc Trăng làm Trưởng Ban, đồng chí Sơn Thông, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh Trà Vinh và đồng chí Kim Cươi, chuyên viên Ban Dân tộc Trung ương hồi kết trở về làm ủy viên . Chức năng nhiệm vụ chính được giao là: làm tham mưu tổng hợp về công tác Khmer vận , chủ yếu nhất là về các hình thức tập hợp lực lượng và kèm cặp đào tạo cán bộ Khmer vận ; ngoài ra, cũng có thêm một số nhiệm cụ thể do khu ủy phân công trong việc chỉ đạo tại địa phương hoặc trực tiếp làm một số công việc mà Ban Khmer vận , Khu Tây Nam Bộ đảm trách trực tiếp sẽ thuận lợi hơn cho phong trào .Việc ra đời và hoạt động của Ban Khmer vận đã góp phần quan trọng thúc đẩy hoạt động yêu nước, phong trào đấu tranh cách mạng của đồng bào và sư sãi Khmer được nâng lên một chất lượng mới . Lòng tin và tinh thần tham gia ủng hộ kháng chiến, ủng hộ cách mạng dần dần được nâng lên rõ rệt . Âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch đều bị bóc trần, mọi âm mưu đen tối của chúng đều bị phá tan . Mọi hình thức mua chuộc, mọi sự răn đe đều không ngăn cản được ý chí cách mạng của đồng bào và sư sãi Khmer. Nhiều tầng lớp đồng bào các dân tộc và sư sãi Khmer hoàn tục đã lần lượt trực tiếp cầm súng ra chiến trường , nhiều người thoát ly gia đình tham gia kháng chiến; nhiều phong trào đấu tranh , biểu tình công khai của đồng bào và sư sãi Khmer chống chính quyền tay sai, chống bắt lính , dồn dân, chống bắn phá chùa chiền, chống lấy chùa làm đồn bót, chống đàn áp đã diễn ra ở khắp nơi ở Nam Bộ . Nhiều gia đình đồng bào dân tộc nuôi chứa cán bộ cách mạng; nhiều vùng dân tộc trở thành khu căn cứ an toàn cho lực lượng cách mạng... Nhiều cán bộ, các chức sắc trong tôn giáo là người dân tộc Khmer được cơ cấu vào các vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức của lực lượng cách mạng, trong MTGPMNVN ở các cấp. Cuộc đấu tranh của hai vạn đồng bào Khmer ở Trà Vinh năm 1967; hai trăm sư sãi ở Rạch Sỏi, Kiên Giang; cuộc đấu tranh của bốn vạn người Khmer ở Trà Cú, Cửu Long đã biểu thị tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Khmer Nam Bộ . Đa số nông dân Khmer đã nâng cao nhận thức về cách mạng so với thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là về ý thức giác ngộ về quyền lợi giai cấp và ý thức quốc gia dân tộc đã đến mức đã có thể bỏ qua không cần tiếp tục tổ chức Hội ủng hộ Issarăk như cũ vì đồng bào Khmer nhận thấy mặt trận và các đoàn thể quần chúng của cách mạng hoạt động rất hiệu quả . Tầng lớp sư sãi vùng Khmer được tập hợp, đề cao vai trò nên đã phát huy khả năng cách mạng của họ . Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước đã được Khu ủy chấp thuận cho thành lập và phát huy tác dụng rất tốt. Bên cạnh uy tín lớn sẵn có của một số nòng cốt yêu nước tên tuổi như Hòa Thượng Sơn Vọng, Thạch Som, Hữu Nhem, còn có nhiều vị sư sãi đi theo cách mạng... Nhiều ngôi chùa của bà con Khmer đã trở thành cơ sở cách mạng, chịu đựng bom đạn và các thủ đoạn tra tấn cực hình để bảo vệ cán bộ của Đảng , như chùa KosThum , xã Ninh Thạnh Lợi, chùa Đìa Chuối xã Vĩnh Bình, chùa Dì Quán xã Ninh Quới, tỉnh Bạc Liêu; chùa Rê sê ray, Pô thi won sa xã Xà Phiên, chùa Khe ma răn sey xã Tân Hòa, tỉnh Hậu Giang; chùa San vor po thin hen ở Cần Thơ… Rất nhiều tấm gương phụ nữ Khmer đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc như anh hùng liệt sĩ Danh Thị Tươi, mẹ Lâm Thị Hon. Sau ngày giải phóng 30-04-1975, Ban Khmer vận Khu Tây Nam Bộ đã làm tham mưu giúp cấp ủy và ủy ban Quân quản Miền Tây giải quyết nhiều vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực nảy sinh trong tình hình mới . Thông qua công tác dân tộc trong thời kỳ này, đồng bào và sư sãi Khmer tiếp tục giác ngộ và hiểu về cách mạng, hiểu về Đảng Cộng Sản Việt Nam . Nhiều chính sách kinh tế đối với đồng bào Khmer và các dân tộc được thực hiện đã góp phần quan trọng vào củng cố khối đoàn kết, tinh thần yêu nước của đồng bào. Nhiều hộ nghèo được cấp đất sản xuất; nhiều thanh niên nam nữ được đưa đi  đào tạo tại Miền Bắc và các cán bộ tại chỗ cũng lần lượt được đào tạo bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ . Ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào Khmer được bảo tồn, phát huy, phục vụ thiết thực cho phong trào cách mạng. Công tác dân tộc và Phật giáo Nam tông Khmer được Ban Dân tộc Trung ương chỉ đạo thống nhất dựa trên cơ sở chính sách trong Chỉ thị 117-CT/TW. Thời kỳ này nhiều phong trào cách mạng được phát động ;Việc cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp lần lượt được triển khai . Nhìn chung từ sau năm 1975 và trong thập kỉ 80 truyền thống cách mạng, yêu nước của đồng bào Khmer tiếp tục được phát huy và chuyển sang thời kỳ mới của một nước độc lập tự do, sống trong hòa bình, từng bước đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước . * Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều cơ sở người Hoa đã trở thành nơi hoạt động của cách mạng như ở các khách sạn, trường học, xí nghiệp do người Hoa quản lí. Nhiều cán bộ người Hoa đã dũng cảm dẫn đường đưa quân ta tiến đánh các căn cứ Mỹ ngụy trong chiến dịch Mậu Thân 1968 và trong cuộc tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975. Bà con người Hoa hưởng ứng tích cực phong trào “Hũ gạo nuôi quân”, “Con gà chống Mỹ” để ủng hộ kháng chiến. Họ tự nguyện chiến đấu bảo vệ xóm làng, vừa động viên con em tham gia bộ đội, du kích. Tấm gương mẹ Trần Thị Láng ở Hậu Giang, người mẹ người Hoa đã đùm bọc, che chở cán bộ suốt hai cuộc kháng chiến, liên tục tiễn hai thế hệ con cháu lên đường chống Mỹ cứu nước; chị Trần Thị Chia bị địch bắt tra tấn dã man nhưng không khai một lời, một lòng một dạ bảo vệ cơ sở cách mạng, chị hi sinh để lại năm đứa con thơ; chị Lâm Thị Mười ở Cần Thơ bị máy bay Mỹ bắn rốc két, mù cả hai mắt khi mới tròn 20 tuổi, nhưng vẫn luôn luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của cách mạng giao. Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đồng bào người Hoa hăng hái lao động sản xuất, nhiều doanh nghiệp tiêu biểu nổi lên, làm ra nhiều sản phẩm có chất lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường như tập đoàn Kinh Đô, Thái Tuấn, Thiên Long, Tân Cường Thành, ngân hàng Sacombank. Trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, người Hoa cũng tham gia rất tích cực góp phần quan trọng xây dựng cơ sở chính trị, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. * Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta đã chứng minh rõ vị trí trọng yếu về quốc phòng an ninh của vùng dân tộc miền núi: là căn cứ địa cách mạng, là chỗ dựa vững chắc, nơi trực tiếp cung cấp nhân tài vật lực cho các chiến trường, nơi xuất phát của các chiến dịch vĩ đại của dân tộc. Bản chất của đồng bào các dân tộc thiểu số là sống thật thà, một lòng theo Đảng và Bác Hồ, trung thành với lợi ích của Tổ quốc, hi sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đoàn kết gắn bó với đồng bào Kinh, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là truyền thống đoàn kết yêu nước, là sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam. Trải qua các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các dân tộc thiểu số đã có 364.000liệt sĩ, 575.000 thương, bệnh binh. Những cống hiến to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ghi nhận, tuyên dương qua việc trao tặng các danh hiệu cao quý: có 32 tỉnh, 255 huyện, 1309 xã, vùng dân tộc thiểu số được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 153 cá nhân người dân tộc thiểu số được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 12 anh hùng lao động;1865 mẹ Việt Nam anh hùng. Có 1265 đơn vị, và 95 cá nhân hoạt động trên địa bàn dân tộc miền núi đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nhân dịp Đại hội Đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ I, Đảng và Nhà nước đã tặng Huân chương Sao Vàng cho cơ quan làm công tác dân tộc, tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho một tập thể và một cá nhân, danh hiệu Anh hùng Lao động cho một tập thể và nhiều Huân Huy chương cao quý khác.

Gửi bình luận của bạn
  • Mới cập nhật
  • Xem nhiều
x