Thứ hai, 17/01/2022, 23:39

Phát triển thương hiệu Tài chính ngân hàng

NHNN sửa Thông tư 01: Cơ cấu thời hạn trả nợ đến hết năm 2021, chính thức có lộ trình trích lập dự phòng trong 3 năm

DNTH: Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư 03/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2020. Theo đó, việc thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí cho khách hàng được nới đến hết ngày 31/12/2021. Thông tư cũng quy định cụ thể về lộ trình trích lập dự phòng rủi ro đối với số dư nợ được cơ cấu lại.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 03/2021/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 17/5/2021.

Cụ thể, về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ của khoản nợ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: 

Thứ nhất, phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính.

Thứ hai, phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/12/2021.

Thứ ba, số dư nợ của khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ thuộc một trong các trường hợp: số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận; số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 23/1/2020 và quá hạn trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 29/3/2020; số dư nợ của khoản nợ phát sinh từ ngày 23/1/2020 và quá hạn trước ngày 17/5/2021.

Thứ tư, được TCTD đánh giá khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Thứ năm, khách hàng có đề nghị được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và TCTD đánh giá khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại.

Thứ sáu, TCTD không thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khoản nợ vi phạm quy định pháp luật.

Thứ bảy, thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ (kể cả trường hợp gia hạn nợ) phù hợp với mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với khách hàng và không vượt quá 12 tháng kể từ ngày TCTD thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Thứ tám, việc thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng thực hiện đến ngày 31/12/2021.

Về miễn, giảm lãi, phí, TCTD quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/12/2021 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Việc thực hiện miễn, giảm lãi, phí cho khách hàng theo quy định tại thông tư này thực hiện đến ngày 31/12/2021.

NHNN sửa Thông tư 01: Cơ cấu thời hạn trả nợ đến hết năm 2021, chính thức có lộ trình trích lập dự phòng trong 3 năm
Toà nhà Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Về giữ nguyên nhóm nợ và phân loại nợ, TCTD được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/1/2020 đối với số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 23/01/2020 thuộc diện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 29/3/2020.

TCTD được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD đối với số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi của khoản nợ phát sinh từ ngày 23/1/2020 đến trước ngày 10/6/2020 theo quy định của thông tư.

Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ còn trong hạn theo thời hạn cơ cấu lại, TCTD không phải áp dụng nguyên tắc điều chỉnh, phân loại lại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD.

Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại mà không được TCTD tiếp tục cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định tại thông tư này, TCTD phải thực hiện phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD.

Đối với số lãi phải thu của số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1) theo quy định tại thông tư này, kể từ ngày được cơ cấu lại, TCTD không hạch toán thu nhập (dự thu) mà theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu; thực hiện hạch toán vào thu nhập khi thu được theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với TCTD.

Kể từ ngày 1/1/2024, TCTD căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD để phân loại đối với toàn bộ dư nợ, cam kết ngoại bảng của khách hàng, bao gồm cả số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ theo quy định tại thông tư.

Về trích lập dự phòng rủi ro, TCTD thực hiện trích lập dự phòng cụ thể đối với khách hàng có số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi như sau:

Căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD, TCTD thực hiện trích lập số tiền dự phòng cụ thể đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ đối với phần dư nợ được giữ nguyên nhóm nợ và kết quả phân loại nợ đối với dư nợ còn lại của khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD (gọi số tiền này là B).

TCTD xác định số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD, không áp dụng quy định giữ nguyên nhóm nợ theo thông tư (gọi số tiền này tại A).

TCTD xác định số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung theo công thức: số tiền dự phòng cụ thể phải trích = A - B.

Trong trường hợp số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung được xác định là dương, TCTD thực hiện trích bổ sung dự phòng cụ thể như sau: đến thời điểm 31/12/2021, tối thiểu 30% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung; đến thời điểm 31/12/2022, tối thiểu 60% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung; đến thời điểm 31/12/2023, 100% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung.

Kể từ ngày 1/1/2024, TCTD căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD để trích lập dự phòng rủi ro đối với toàn bộ dư nợ, cam kết ngoại bảng của khách hàng, bao gồm cả số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ theo quy định tại thông tư.

Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Cùng chuyên mục

Ngày càng nhiều cổ phiếu có chất lượng thấp được đẩy giá cao, thị trường đang có phần "nóng" trong ngắn hạn

Ngày càng nhiều cổ phiếu có chất lượng thấp được đẩy giá cao,...

DNTH: Tần suất xuất hiện ngày càng nhiều hơn các hàng hóa cổ phiếu có chất lượng xấu nhưng giá lại được đẩy lên cao. Điều này không chỉ ảnh hưởng đồng tiền của nhà đầu tư mà còn tới sự phát triển chung của thị trường.
Nối gót Mỹ, chứng khoán châu Á đỏ lửa

Nối gót Mỹ, chứng khoán châu Á đỏ lửa

Mức giảm tại các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc có lúc lên tới hơn 5% sáng nay.
 Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo điều hành giá

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo...

DN&TH; Sáng ngày 10/7, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ chủ trì cuộc họp đánh giá tình hình trong 6 tháng đầu năm và phương hướng điều hành trong những tháng còn lại của năm 2018.
Ngân hàng Kiên Long và lộ trình chuyển đổi số - Từ phòng giao dịch 5 sao đến Digital Bank toàn diện

Ngân hàng Kiên Long và lộ trình chuyển đổi số - Từ phòng giao dịch 5...

DNTH: Không chỉ là công nghệ, Digital Banking của Kienlongbank sẽ thay đổi hoàn toàn tư duy, thói quen và tâm lý của người dùng, mang đến cho khách hàng những trải nghiệm “cá nhân hoá toàn diện”, hướng đến hình thành ngân hàng thông minh 4.0 tiên tiến, hiện đại bậc nhất.
Giám đốc ngân hàng bỏ lương trăm triệu, trồng rau thu 2 tỷ/tháng

Giám đốc ngân hàng bỏ lương trăm triệu, trồng rau thu 2 tỷ/tháng

Nhiều người không quản ngại vất vả, chấp nhận từ bỏ sự nghiệp, chức vụ để về quê mở trang trại trồng rau, nuôi gà. Họ mong muốn đem lại cho gia đình và xã hội những bữa ăn ngon, an toàn từ những thực phẩm sạch.
Vietcombank - Top 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2020 - 2021

Vietcombank - Top 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2020 - 2021

DNTH: Ngày 13/10/2021, Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức Lễ công bố và vinh danh Top 10 và Top 100 Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2020 – 2021 trên nền tảng VnEconomy và Fanpage VnEconomy.
Nghỉ hưu về làm vườn vẫn ung dung kiếm nửa tỷ đồng/năm

Nghỉ hưu về làm vườn vẫn ung dung kiếm nửa tỷ đồng/năm

Trang trại với diện tích rộng hơn 20ha được thiết kế bài bản, đa dạng các chủng loại cây trồng, từ cây công nghiệp cho đến các loại cây ăn trái đều có giá trị kinh tế cao. Lợi nhuận ông Đỗ Văn Việt thu về hàng năm khoảng nửa tỷ đồng.
Tiền đồng tăng giá: Doanh nghiệp nào được lợi?

Tiền đồng tăng giá: Doanh nghiệp nào được lợi?

DNTH: Xu hướng tiền đồng tăng giá nếu như góp phần thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam nhờ hạn chế được rủi ro tỷ giá, thì ngược lại sẽ gây áp lực lên doanh nghiệp (DN) xuất khẩu trong giai đoạn tới, vì lợi thế cạnh tranh giá bán sẽ bị tác động đáng kể.